Tiểu luận: Kinh nghiệm xây dựng lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945

MỞ ĐẦU

Hơn sáu thập kỷ trước, vào những ngày giữa tháng Tám này, Trung ương Đảng mở Hội nghị Tân Trào với sự chủ trì của lãnh tụ Hồ Chí Minh để luận bàn quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa.
Dưới ngọn cờ tiền phong của đảng, đồng bào ta từ Bắc chí Nam từ non ngàn đến thôn dã, từ thị thành đến biển đảo, triệu người như một đồng loạt vùng lên, nhất tề xốc tới như thác lũ tràn về, như sóng thần ập tới cuốn phăng cả thành trì 80 năm của đế quốc thực dân, hàng nghìn năm phong kiến, lập nên chính quyền nhân dân trên toàn lãnh thổ.
Nhân tố quyết định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám chính là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng mà trực tiếp là của 5.000 đảng viên tiền bối. Vâng, chỉ có 5.000 người cộng sản thôi, nhưng là những chiến sĩ vô cùng kiên trung bất khuất, một lòng vì nước vì dân, sáng ngời dũng khí chiến đấu, được tôi rèn trong quá trình hoạt động cách mạng từ khi Đảng ra đời 15 năm trước. Đó là đội ngũ xung kích đi tiên phong vào sống ra chết không sờn lòng, đầu rơi máu chảy không lùi bước, tra tấn tù đầy không khuất phục, kiên quyết lãnh đạo toàn dân đưa cuộc tổng khởi nghĩa đến thành công trong cả nước sau 15 ngày bão táp cách mạng.
Tổ quốc đời đời ghi công, tưởng nhớ những đảng viên tiền bối hạt nhân ấy đã làm nên chiến thắng lịch sử huy hoàng trong cuộc Tổng khởi nghĩa. Tiếp đến giành thắng lợi trọn vẹn trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, để đất nước có vị thế hôm nay của kỷ nguyên mới độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, sánh vai cùng bầu bạn bốn bể năm châu. Trong đó tinh thần cách mạng tháng Tám bất diệt luôn là động lực của nguồn sức mạnh chiến đấu, lao động xây dựng bảo vệ đất nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thế hệ hôm nay mở lại trang sử vàng của dân tộc từ mùa thu ấy, càng trân trọng đối với quá khứ của cha ông, của lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại, tiêu biểu là những đảng viên công sản – dù nay các vị tiền bối ấy đã hy sinh, hay còn thượng thọ, hoặc đã thanh thản ra đi yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng để hôm nay đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do.
Thật là một điều kỳ diệu, lúc ấy chỉ với 5.000 đảng viên, và chưa hề có một công cụ pháp quyền nào, song bằng ý chí kiên trung bất khuất của người cộng sản, với tinh thần quật khởi của nhân dân đồng lòng theo Đảng, đã giành thắng lợi trọn vẹn trong một cuộc cách mạng long trời lở đất, để lại dấu ấn của một sự tích thần kỳ, trở thành mốc son chói lọi và truyền thống quý báu của dân tộc mà Đại hội Đảng IX đã trân trọng tôn vinh về chiến công vẻ vang nhất trong thế kỷ XX của dân tộc ta.
Hôm nay mùa thu tháng Tám lại về. Ngược dòng thời gian, hồi niệm lịch sử, sống lại khí thế hào hùng những ngày khởi nghĩa sục sôi năm xưa, càng kiêu hãnh tự hào đối với Đảng, càng giục giã các thế hệ tiếp nối bước cha ông, phát huy thành quả cách mạng tháng Tám, gắn kết lịch sử và thời đại, đưa Việt nam lên tầm cao mới, vị thế mới trong cộng đồng quốc tế.
Từ ý nghĩa đó, em lựa chọn vấn đề: “Kinh nghiệm xây dựng lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945” làm đề tài nghiên cứu hết môn học.

Tiểu luận: Hội nhập kinh tế quốc tế, thời cơ và thách thức ở Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và tích tụ tập trung tư bản dẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất. Sự hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế chính trị của các nước nói riêng và của thế giới nói chung. Đó là sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế có nhiều sự thay đổi. Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, EU, AFTA…và nhiều tam giác phát triển khác cũng là do toàn cầu hoá đem lại.
Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như sau này. Bởi một nước mà đi ngược với xu hướng chung của thời đại sẽ trở nên lạc hậu và bị cô lập, sớm hay muộn nước đó sẽ bị loại bỏ trên đấu trường quốc tế. Hơn thế nữa, một nước đang phát triển, lại vừa trải qua chiến tranh tàn khốc, ác liệt…thì việc chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới thì lại càng cần thiết hơn bao giờ hết. Trong quá trình hội nhập, với nội lực dồi dào sẵn có cùng với ngoại lực sẽ tạo ra thời cơ phát triển kinh tế. Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một vấn đề bao giờ cũng có hai mặt đối lập. Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Nam rất nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đem lại không ít khó khăn thử thách. Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta sẽ từng bước khắc phục những khó khăn để đưa đất nước phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan đối với Việt Nam.
Để góp phần tìm hiểu sâu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và những thời cơ, thách thức trong quá trình hội nhập, em chọn đề tài “Hội nhập kinh tế quốc tế, thời cơ và thách thức đối với Việt Nam” làm tiểu luận hết môn học.
Do trình độ có hạn, nguồn tư liệu chưa nhiều, thời gian gấp, nên trong quá trình nghiên cứu khó tránh khỏi những sơ suất, em rất mong các thầy cô giáo góp ý và thông cảm.

Tiểu luận: Cơ sở thực tế của hệ tư tưởng trong tác phẩm Hệ tư tưởng đức

A- MỞ ĐẦU

Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” là một trong những tác phẩm lớn của Mac K. (K. Marx) và Enghen F. (F. Engels), được viết trong thời kì hình thành lí luận về chủ nghĩa cộng sản khoa học, cấu thành một giai đoạn quan trọng trong sự hình thành những cơ sở triết học và lí luận của chủ nghĩa Mac. Trong “HTTĐ”, Mac và Enghen phê phán Foiơbăc L. (L. Feuerbach) và các nhà Hêghen trẻ, từ đó, lần đầu tiên trình bày một cách có hệ thống chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong tác phẩm “HTTĐ”, khi phê phán quan điểm duy tâm của phái Hêghen trẻ và những hạn chế của chủ nghĩa duy vật của Foiơbăc, Mac và Enghen lần đầu tiên vạch ra nội dung cơ bản của quy luật vận động biện chứng của sức sản xuất và quan hệ sản xuất, được gọi là các hình thức giao tiếp, lấy đó làm căn cứ để vạch ra sự kế tục và thay thế nhau của các chế độ sở hữu bộ lạc nguyên thuỷ, chế độ sở hữu nô lệ, chế độ sở hữu phong kiến, chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa, coi sự phát triển xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. Trong tác phẩm này, Mac và Enghen cũng nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ cấu chính trị và nền sản xuất, nguyên lí về mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, mối quan hệ giữa nhà nước với chế độ sở hữu, vạch ra bản chất giai cấp của nhà nước. Lần đầu tiên nghiên cứu về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, Mac và Enghen khẳng định rằng “không phải ý thức quyết định đời sống, mà chính đời sống quyết định ý thức”, ý thức chính trị – xã hội là do cơ sở kinh tế quyết định, cho nên “giai cấp nào chi phối tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả tư liệu sản xuất tinh thần”, và “trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là tư tưởng thống trị”.
Để hiểu rõ tác phẩm, trước hết ta tìm hiểu sơ qua về những nội dung sau:
Thứ nhất, hoàn cảnh ra đời: C.Mác và ph.Ăngghen không phải là những người đầu tiên đưa ra những quan điểm tư tưởng phê phán chế độ TBCN, đòi hỏi xóa bỏ chế độ TBCN và thay thế bằng một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn. Những quan điểm tư tưởng này đã được các nhà XHCN không tưởng nêu lên ngay từ khi CNTB mới ra đời nhưng đã bộc lộ những mâu thuẫn sâu sắc, những khuyết tật trầm trọng. Tuy nhiên, những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã không chỉ ra được đúng đắn những lực lượng xã hội và những giải pháp thực hiện cuộc cải tạo chuyển xã hội từ CNTB sang CNXH.
Các nhà kinh tế học trước Mác và đồng thời với Mác, trong các tác phẩm lý luận của mình viết về CNTB đã bộc lộ hai khuynh hướng:
+ Khuynh hướng thực sự muốn tìm ra những chân lý khoa học, những quy luật khách quan của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, từ đó tìm ra những giải pháp khắc phục những hạn chế, những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản với điều kiện vẫn bảo vệ được sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản (đại diện là Xmit, Ri-các-đô.v.v..).
+ Khuynh hướng muốn che đậy những hạn chế, những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, tô hồng CNTB, bất chấp những quy luật khách quan. (Giôn- Xtiu- át Min).
Cũng có những nhà lý luận của cái gọi là CNXH phong kiến, trong khi phê phán CNTB, lại kêu gọi quay trở về quá khứ, đưa xã hội trở về giai đoạn tiền tư bản, trở về chế độ phong kiến, “lý tưởng hóa những trật tự xã hội cổ xưa”.
Có thể nói tât cả những hạn chế về mặt lý luận của những quan điểm đã nêu ở trên đều xuât phát từ một nguồn gốc chung, đó là tư duy triết học, thế giới quan và phương pháp luận vẫn còn bị hạn chế. Nền triết học thế giới cho đến lúc này vẫn chưa vượt khỏi giới hạn của Triết học cổ điển Đức: duy vật nhưng siêu hình và chưa triệt để (phoi–ơ–bắc, Can tơ..); biện chứng nhưng duy tâm (Hêghen).
Mác nhận thấy rằng cần phải phê phán một cách triệt để những quan điểm sai lầm nói trên, cần phải xây dựng một học thuyết khoa học và cách mạng, dựa vào đó có thể có những giải pháp đúng đắn xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng CNCS. Trước hết, cần phải có một tác phẩm triết học có tính luận chiến phê phán những học thuyết triết học sai lầm, cơ sở phương pháp luận thế giới quan của những quan điểm sai lầm nói trên.
Thời kỳ này, trào lưu tư tưởng phản động mang tên “CNXH chân chính” do Ma- xơ Siếc-nơ, Mô-dét Hét-xơ, Các Grun đứng đầu đã gây trở ngại nghiêm trọng cho sự phát triển của phong trào công nhân. Những nhà “CNXH chân chính” đã công khai chống lại CNCSKH, kêu gọi mọi người tôn thờ “CNXH có tính người”, mưu toan dung khẩu hiệu “nhân tính hóa” chủ nghĩa xã hội để phá hoại cơ sở CNXH. “CNXH chân chính” không những có ảnh hưởng lớn ở Đức, mà từ 1845, còn lan rộng ảnh hưởng sang Liên đoàn những người chính nghĩa ở Pháp và Anh. Mác và Angghen coi đấu tranh chống lại những tác hại của “CNXH chân chính” đối với phong trào công nhân là một nhiệm vụ cấp bách.
Đồng thời, trong khi phê phán trào lưu “CNXH chân chính” Mác và Angghen đã trình bày một cách chính diện những quan điểm triết học của mình.
Những quan điểm triết học nhân bản của PhoiơBắc, mặc dù được xây dựng trên lập trường thế giới quan duy vật, nhưng vẫn bị hạn chế bởi tính trừu tượng của nó, tách rời khỏi thế giới hiện thực và chưa thoát khỏi CNDT khi lý giải nững hiện tượng và quá trình diễn ra trong xã hội loài người. trong khi đó, Phoiơbắc lại luôn luôn tự nhận mình là người cộng sản. cần phải phê phán triệt để những quan điểm của Phoiơbắc để phân rõ ranh giới giữa những quan điểm duy vật triệt để của Mác và Ăngghen với những quan điểm duy vật nửa chừng của Phoi ơ bắc.
Đây là tác phẩm viết chung của Mác và Angghen. tác phẩm được viết từ tháng 11- 1845, hoàn thành về cơ bản vào tháng 4-1845; sau đó còn được tiếp tục bổ sung khoảng một năm nữa.
Về cơ bản công việc viết tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, gồm 2 tập, hoàn thành vào tháng 4 năm 1846.
Trong một năm tiếp theo, công việc này con được bổ, hoàn thiện và kết thúc bằng bài báo của Angghen “Những người thuộc phái chủ nghĩa xã hội chân chính”, với tư cách là chương kết thúc của tập 2.
Sau khi hoàn thành, việc xuất bản tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” không thể thực hiện được vì, một mặt, với chế độ kiểm duyệt của nhà cầm quyền Đức lúc đó, không một nhà xuất bản nào dám đứng ra xuất bản một tác phẩm mang đầy nội dung cách mạng như vậy; mặt khác, bản thân các nhà xuất bản vốn là những đại biểu liên quan đến những khuynh hướng mà Mác phê phán. Mãi đến năm 1932 tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” mới được xuất bản lần đầu tiên ở Liên Xô.
Thứ hai, kết cấu của tác phẩm: Toàn bộ tác phẩm”HTTĐ” gồm hai tập: tập 1 viết vào tháng 9.1845, nhưng chưa hoàn thành, trong đó Mac và Enghen phê phán các quan điểm của Foiơbăc và các nhà Hêghen trẻ như Baoơ B. (B. Bauer) và Xtianơ M. (M. Stirner), trình bày những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật lịch sử; tập 2 viết vào tháng 5.1846, trong đó, Mac và Enghen chủ yếu phê phán quan điểm triết học của các nhà “xã hội chủ nghĩa chân chính”. Khi Mac và Enghen còn sống, do nhiều cản trở, tác phẩm “HTTĐ” chưa được xuất bản, trừ một số chương. Do sự kiên trì của Mêrinh F. (F. Mehring), tác phẩm đó còn giữ lại được. Mãi đến 1932, “HTTĐ” mới được Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mac – Lênin của Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvich) Liên Xô xuất bản toàn văn bằng tiếng Đức và đến 1933 thì xuất bản bằng tiếng Nga.
Hiện nay, trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, ý nghĩa lớn lao này của Hệ tư tưởng Đức vẫn còn nguyên giá trị. Do đó em chọn vấn đề: Những nội dung cơ bản của mục B “Cở sở thực tế của hệ tư tưởng trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức”, làm chuyên đề tiểu luận của mình.

Tiểu luận: Hệ thống hành chính quốc gia thời Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX)

MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam có một lịch sử lâu đời và một truyền thống tốt đẹp. Lịch sử lâu đời đó do chính những con người Việt Nam đã xây dựng và tạo nên những truyền thống và quá khứ hào hùng, vẻ vang của dân tộc. Từ trong sự nghiệp dụng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã tạo nên ý thức dân tộc, ý chí kiên trung, tinh thần yêu nước nồng nàn và lòng dũng cảm tuyệt vời để xây dựng nên những giá trị tinh thần cơ bản, góp phần quan trọng làm nên sự nghiệp cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, chống các thế lực đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước. Công lao to lớn đó của cha ông và tổ tiên chúng ta qua mấy ngàn năm lịch sử là rất đáng tự hào và để giáo dục cho các thế hệ mai sau, nhất là trong công cuộc xây dựng đất nước ở thời kỳ hiện tại.
Tuy nhiên nói đến đất nước, đến dân tộc, Tổ quốc tức là chúng ta muốn nói đến một khối cộng đồng người cùng sống trên một lãnh thổ, có tiếng nói chung, một nền kinh tế thống nhất và đương nhiên là dưới sự quản lý của một nhà nước thống nhất. Thực ra lịch sử lâu đời của một dân tộc cũng là lịch sử lâu đời của công cuộc xây dựng nhà nước, xây dựng hệ thống hành chính quản lý đất nước.
Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XV, cùng với việc xây dựng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ, bộ máy nhà nước phong kiến theo xu hướng quân chủ quan liêu cũng được hoàn thiện dần và đến thời Lê Thánh Tông thì nó đã là nhà nước loại tiên tiến đương thời, với công cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông. Sang thời Minh Mạng, một lần nữa hệ thống hành chính quốc gia lại được cải cách.
Có thể nói ở triều đại nào, dù rằng dưới chế độ phong kiến, các giai cấp thống trị đều muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền hoàn hảo. Bởi vì ngoài nhiệm vụ thống trị và bóc lột, nhà nước đó còn phải được sự ủng hộ của nhân dân cả thời bình cũng như trong thời chiến để giữ vững biên cương, bảo vệ Tổ quốc và trong xây dựng đất nước.
Trong khuôn khổ một tiểu luận, không thể nghiên cứu toàn bộ hệ thống hành chính thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, mà trong tiểu luận này, chúng em chỉ đi sâu nghiên cứu Hệ thống hành chính quốc gia thời Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX).

Tiểu luận: Giải pháp phát triển kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

A. LỜI MỞ ĐẦU
Loài người đã trải qua hai nền văn minh và ngày nay, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của nền văn minh thứ ba -văn minh trí tuệ. Trong nền văn minh này, bộ phận quan trọng nhất là nền kinh tế tri thức – có thể nói là hết sức cơ bản của thời đại thông tin.Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin như: công nghệ Web, Internet, thực tế ảo, thương mại tin học…. Cùng với những thành tựu về công nghệ sinh học: công nghệ gen, nhân bản vô tính… đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người đưa con người đi vào thời đại kinh tế tri thức.Rất nhiều nước trên thế giới đều có tăng trưởng kinh tế từ tri thức.Việt Nam vẫn đang là một trong những nước nghèo và kém phát triển so với khu vực và trên thế giới.Do đó phát triển kinh tế là chiến lược cấp bách hàng đầu.Hơn nữa chúng ta đang trên con đường tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước nên không thể không đặt mình vào tri thức, phát triển tri thức để đưa nền kinh tế nước nhà bắt kịp và phát triển cùng thế giới.
Góp phần vào chiến lược phát triển kinh tế,tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoa,hiện đại hoá chúng ta cần phải nghiên cứu tri thức,tìm hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế tri thức,phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh đất nước,phù hợp với khu vực,với thế giới và thời đại trong tổng thể các mối liên hệ,trong sự phát triển vận động không ngừng của nền kinh tế tri thức. Vì vậy em quyết định chọn đề tài “Giải pháp để phát triển kinh tế tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH ở đất nước Việt Nam hiện nay” này để làm đề tài nghiên cứu của mình.
Do hiểu biết còn hạn chế nên đề tài còn những thiếu sót nhất định. Em rất mong được sự nhận được ý kiến đóng góp của các thầy , cô để đề tài được hoàn thiện hơn.