Tiểu luận: “Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo tới đạo đức Việt Nam”

Học viện báo chí tuyên truyền
Khoa chủ nghĩa xã họi

Tiểu luận
“Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo tới đạo đức Việt Nam”
MỞ ĐẦU
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học – tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp. Đạo phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người. Vì vậy khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến Phật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn còn ảnh hưởng nhất định, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một số bộ phận dân cư Việt Nam, nhất là trong tư tưởng đạo đức của người Việt. Giai đoạn hiện nay khi chúng ta phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, một mặt nền kinh tế đó tạo đà cho đất nước phát triển, mặt khác những tiêu cực của kinh tế thị trường cũng tác động trực tiếp tới đời sống của nhân dân. Một trong những mặt trái của nền kinh tế thị trường đó là các giá trị đạo đức trong xã hội đang bị suy thoái. Trong bối cảnh như vậy việc xây dựng và phát triển nền đạo đức của dân tộc là rất cần thiết. Phật giáo với sự tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần người Việt cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các giá trị đạo đức của dân tộc. Với những lý do trên tôi chọn đề tài “Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo tới đạo đức Việt Nam” để làm rõ những tư tưởng cơ bản và ảnh hưởng của phật giáo tới đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Tiểu luận “Nội dung cơ bản về phép biện chứng trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên “.

MỞ ĐẦU
1. Lý do và tính cấp thiết của đề tài
Ăngghen không chỉ là một nhà cách mạng, một lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, một nhà khoa học, một nhà triết học xuất sắc… Người đã cùng Mác tạo nên một bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Những tác phẩm mà Mác – Ăngghen để lại đã chứng tỏ điều đó, đặc biệt với tác phẩm “Biên chứng của tự nhiên” là một minh chứng sinh động cho nhận định này.
Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của Ăngghen được viết vào những năm 1873-1883, phần bổ sung của tác phẩm được viết vào những năm 1885-1886. Đây là Một tác phẩm chưa được hoàn thành, được viết dưới các bài tản mạn, các trích đoạn, bản thảo… Khi ông còn sống , những tài liệu liên quan đến tác phẩm chưa được công bố. Sau khi ông qua đời 30 năm, tác phẩm đã được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Nga, tiếng Đức ở liên Xô ( tức là năm 1925).
“Biên chứng của tự nhiên” ra đời trong hoàn cảnh sau: Công xã Pari (1871) thất bại đã đánh dấu thời kỳ đi xuống của phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, nhưng nó cũng giúp giai cấp vô sản rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, và là cơ sở thực tiễn xã hội giúp C.Mác và Ph.Ăngghen khái quát và phát trển lý luận của mình. Khoa học tự nhiên có những bước phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt các phát minh của khoa học tự nhiên đã ra đời tạo ra bước ngoặt cách mạng trong khoa học tự nhiên, tiêu biểu nhất là ba phát minh vĩ đại: ” Đinh luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng”; ” Thuyết tiế n hoá”; ” Thuyết tiến hoá”. Những thành tựu khoa học tự nhiên đã chứng minh sự phát triển trong thế giới khách quan là vô cùng, vô tận, đồng thời nó cũng cho con người thấy rằng thế giới nằm trong mối liên hệ phổ biến, liên hệ giữa vô cơ và hữu cơ, giữa chất sống và chất không sống,, giữa động thực vật và môi trường… Đó là những nguyên lý cơ bản của phép biên chứng. Những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã đạt được cho đến lúc bấy giờ đã chứng tỏ bằng lý luận nhân thức và phương pháp siêu hình từ lâu đã từng giữ vị trí thống trị trong khoa học không còn phù hợp nữa.
Trước hoàn cảnh nói trên, Ăngghen đã viết tác phẩm “Biên chứng của tự nhiên” với mục đích trước hết là phân tích, tổng kết những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, từ đó giải quyết những vấn đề quan trọng của triết học và khoa học tự nhiên, xây dựng hệ thống quan niệm biện chứng về giới tự nhiên cả về thế giới quan và phương pháp luận khoa học. Tác phẩm không chỉ là biểu mẫu của chủ nghĩa duy vật mà còn là biểu mẫu của phép biên chứng duy vật.
Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” bàn nhiều đến vấn đề từ tự nhiên đến lịch sử, từ lịch sử của khoa học đến lịch sử của phép biện chứng, từ quan niệm về vận động của vật chất đến các phcs thảo sơ thảo về vận động xã hội. Song, mục đích của tác phẩm chủ yếu tập ở chính tên gọi của nó “Biện chứng của tự nhiên”. Ăngghen đã phân tích phép biện chứng khách quan trong tự nhiên, mối liên hệ giữa tư duy khoa học cũng như những thành tựu của nó với tư duy triết học, tính định hướng của phép biện chứng duy vật đối với khoa học, tự nhiên. Phép biện chứng duy vật với tư cách là nhận thức và cải tạo thực tiễn đã được Ăngghen phân tích và trình bầy một cách khoa học, thuyết phục bởi những lập luận và dẫn chứng xác đáng. Việc nghiên cứu và làm rò những tư tưởng cơ bản về phép biện chứng trong tác phẩm này một mặt giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về phép biện chứng duy vật, vận dụng phép biên chứng duy vật trong hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới một cáhc có hiệu quả. Mặt khác việc nghiên cứu đó giúp chúng ta đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc hòng bác bỏ phép biện chứng duy vật của những lực lượng cơ hội và phản động, góp phần vào việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, phép biện chứng duy vật nói riêng… Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nội dung cơ bản về phép biện chứng trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên “.

Tiểu luận:nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thời kỳ 1975 – 1986

MỞ ĐẦU
Một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến vận mệnh của dân tộc – đó là tư duy nhận thức của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, hoạt động nhận thức (tư duy) của Đảng có vai trò, ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Trên cơ sở của một nhận thức nhất định mà Đảng vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách. Nhận thức đúng, sai quyết định đến xu hướng, bước tiến, qui mô và có thành bại của cuộc cách mạng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật và độc đáo trong tư duy về con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội cũng đã được chủ nghĩa Mác – Lênin giải quyết khá căn bản về mặt lý luận. Dường như, sau khi giành được chính quyền, các Đảng Cộng sản chỉ việc quán triệt cho đầy đủ những luận điểm lý luận và sử dụng kinh nghiệm của các nước đi trước cho phù hợp với hoàn cảnh nước mình. Nhiều lắm là đem đến cho nó một vẻ riêng biệt nào đó trên cơ sở của cùng một con đường, đã được hình dung sẵn. Nhưng trong thực tế ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và ở Việt Nam, đã có một quá trình không đơn giản, thậm chí có không ít vấp váp, sai lầm, đến độ phải đổi mới nhận thức về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đảng ta hình dung ngay từ khi thành lập Đảng. Đó là con đường sau khi đã hoàn thành cuộc cách mạng điền địa và phản đế, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không qua phát triển tư bản chủ nghĩa. Đảng đã bước đầu chuẩn bị cho những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng phải đến năm 1954, sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, vấn đề quá độ mới thực sự được đặt ra. Những kinh nghiệm và nhận thức của hai Đảng lớn Liên Xô, Trung Quốc về thời kỳ quá độ khi ấy được thừa nhận là có ý nghĩa phổ biến.
Vì những lí do chủ quan và khách quan, mặc dù có nêu việc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội (tại Hội nghị Trung ương lần VIII, 8-1955). Thời kỳ kỳ 1954 – 1957 Đảng chưa thể vạch ra một chương trình tổng thể xây dựng miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội. Những giải pháp kinh tế-xã hội xuất phát từ thực tiễn đất nước nhằm khôi phục kinh tế… đã tỏ ra có hiệu quả to lớn. Nhưng nó sớn bị ngưng lại và dường như chỉ được coi là chuẩn bị tiền đề cho miền Bắc bắt đầu vào thời kỳ quá độ, hơn là những biện pháp, chủ trương cần có của chính thời kỳ quá độ.
Khi rõ ràng không còn khả năng hiệp thương hoà bình giải quyết vấn đề thống nhất đất nước, khi gánh nặng của cuộc cách mạng ở từng miền và cả nước tuỳ thuộc vào đôi vai của miền Bắc và sau Hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân ở Matxơcơva 1957 và 1960. Đảng dứt khoát khẳng định miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ và mặc nhiên thừa nhận những quy luật của cuộc cách mạng theo các mô hình chung lúc đó.
Nhà nước chuyên chính vô sản trên nền tảng kinh tế của chế độ công hữu dưới hai hình thức: toàn dân và tập thể, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiến hành các cuộc cải biến về văn hoá – tư tưởng nhằm thiết lập hình thái kinh tế – xã hội xã hội chủ nghĩa. Từ Đại hội III (9-1960) đến Đại hội IV (12-1976) của Đảng, những quan điểm đó không thay đổi, về hình thức, bước đi để giải quyết các nhiệm vụ kinh tế – chính trị của thời kỳ quá độ – Chủ trương tương đối nhất quán của Đảng là phải tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Từ 1976, Đảng có chủ trương kết thúc thời kỳ quá độ sau vài ba kế hoạch 5 năm. Có thể nói, với công thức chuyên chính vô sản – chế dộ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa và công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, mà Đại hội IV đề ra những quan niệm về “chủ nghĩa xã hội – Nhà nước” đã đạt đến nhận thức cao nhất vượt qua những điều kiện thực tiễn đất nước.
Nội dung nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thời kỳ 1975 – 1986 đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu tổng kết bằng những nhận định, tư liệu phong phú và sâu sắc. Trong bài viết này tôi xin đi sâu hơn về quá trình nhận thức của Đảng. Đó là quá trình tìm tòi, phát hiện và không ngừng đấu tranh để giữ vững lập trường cách mạng theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình nhận thức được chia làm 2 thời kỳ và được đánh dấu bằng hai kỳ đại hội. Đó là đại hội IV và V của Đảng. Từ 1975 – 1986 nhận thức của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội càng được củng cố và nâng cao hơn.
Ở đề tài này tôi sử dụng phương pháp tập hợp hệ thống tư liệu, lịch sử, lôgíc, so sánh… để làm rõ nội dung của đề tài. Mặc dù đã rất cố gắng tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu. Nhưng do thời gian còn hạn hẹp, đề tài đòi hỏi kiến thức phân tích tổng hợp cao, kinh nghiệm còn chưa nhiều, nhất là trong việc xử lý tài liệu nên bài tiểu luận của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, mong có sự đóng góp của thầy cô và bạn bè.

TIỂU LUẬN: NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TRUYỀN THỐNG DỰNG N ƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

MỞ ĐẦU
Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc ta. Trong hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam, các giá trị đạo đức chiếm vị trí nổi bật, tạo nên cốt lõi của nó. Nói đến các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là nói đến đặc thù của đạo đức Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp đã hình thành và được bảo lưu cho đến thời điểm hiện tại. Đó là các giá trị nhân văn mang tính cộng đồng, tính ổn định tương đối, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện trong các chuẩn mực mang tính phổ biến có tác dụng điều chỉnh hành vi giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và xã hội. Xét trong tương quan với thế giới và khu vực, đặc biệt là với các dân tộc phương Đông, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta có những nét chung với nhiều dân tộc khác vì các dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển của mình đều phải giải quyết những vấn đề chung như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ổn định và phát triển đời sống xã hội… Mặt khác, sự giao lưu quốc tế diễn ra thường xuyên ở mức độ này hay mức độ khác, nhất là với các nước gần nhau đã ảnh hưởng đến nhau khá rõ rệt. Cái khác nhau ở đây là trật tự sắp xếp các giá trị đạo đức, mối tương quan giữa chúng và những sắc thái riêng hình thành trong điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc qua suốt chiều dài lịch sử phát triển của nó. Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là do cộng đồng người Việt Nam tạo dựng trong lịch sử phát triển lâu dài trên giải đất Việt Nam với tất cả những điều kiện lịch sử đặc thù tạo nên bản sắc độc đáo của nó

NỘI DUNG

1. Cơ sở hình thành các giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam
Truyền thống bao giờ cũng là sản phẩm của một cộng đồng tồn tại lâu đời trên một vùng đất nhất định. Truyền thống dựng nước gắn với giữ nước của Việt Nam là do cộng đồng người Việt tạo dựng trong lịch sử lâu đời trên dải đất Việt Nam với tất cả những điều kiện và đặc điểm của Tổ quốc Việt Nam.
Vậy những đặc thù tạo nên truyền thống của Việt Nam là gì?
Trước hết, Việt Nam là nước có vị trí quan trọng của vùng Đông Nam Á. Nằm ở góc cực Đông-Nam của đại lục Châu Á, nước ta vừa nhìn ra Thái Bình Dương với bờ biển dài trên 3200 km, vừa nối liền với lục địa bằng hệ thống giao thông thuỷ bộ và đường không, thuận lợi từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây. Là vùng khí hậu phù hợp với nghề nông nghiệp trồng lúa nước, quanh năm cây cỏ xanh tươi, lại nhiều khoảng sản, thuỷ hải sản, tạo ra tiềm năng cho sự phát triển của dân tộc. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nằm trong khu vực có khí hậu nóng ẩm hà khắc, thường xuyên có bão lụt, hạn hán, núi non hiểm trở, dân cư phân bố không đồng đều trong các vùng, ở đồng bằng tập trung đông đúc, miền núi tương đối thưa thớt. Ở Việt Nam, hệ thống sông ngòi khá dày đặc, để có khắc phục tình trạng ngập lụt trong các mùa mưa bão, người dân phải tích cực xây dựng hệ thống đê điều, kênh mương.
Nước ta trong lịch sử cổ đại và trung đại luôn luôn bi đè nặng bởi bóng đen của những đế chế hùng mạnh từ phương Bắc. Đối với đế chế đó, phương Nam luôn là miền đất lạ, giàu có, nhiều sản vật quý. Dải đất phương Nam nằm giữa vùng núi cao trùng điệp và một bên là đại dương mênh mông, luôn luôn là cái hành lang cần thiết cho tham vọng bành trướng với những đoàn quân khổng lồ rong ruổi vó ngựa từ Bắc xuống Nam Á.

Tiểu luận: “Lý luận về con người và vấn đề về đào tạo nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”

Tiểu luận triết học
“Lý luận về con người và vấn đề về đào tạo nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Lời nói đầu. 3
Nội dung 3
Ý kiến cá nhân. 3
I. Lý luận về con người. 4
1.Khái niệm chung về con người: 4
2.Con người là một thực thể sinh học- xã hội . 4
3.Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội. 6
II. Vấn đề đào tạo nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hiện đại hoá ở nước ta. 7
1.Thế nào là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 7
2.Giáo dục đào tạo nguồn nhân lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta: 7
a. Thực trạng nguồn nhân lực nước ta. 7
b. Một số giải pháp nhằm giải quyết hợp lý vấn đề về nguồn nhân lực. 10
c.Ý kiến cá nhân. 14
1. Việt Nam trong dòng chảy chung của thời đại . 14
2 Việc làm của người lao động và vấn đề đổi mới chính sách tiền lương. 15
3) Sinh viên Việt nam trước những yêu cầu thách thức mới. 20
4) Tham khảo một số chính sách phát triển nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở một số nước khác 23
. KẾT LUẬN. 26
Các tài liệu tham khảo: 26

LỜI MỞ ĐẦU
“Dân tộc chúng tôi hiểu đầy đủ rằng: dân tộc mình là một dân tộc nghèo, một đất nước đang phát triển ở mức thấp… Chúng tôi hiểu rõ khoảng cách giữa nền kinh tế của chúng tôi và nền kinh tế của những nước phát triển trên thế giới. Chúng tôi hiểu rõ khoa học công nghệ trong thế kỷ 21 sẽ có những bước tiến khổng lồ. Thực hiện tư tưởng vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh: Lấy sức ta mà giải phóng cho ta, chúng tôi phải tri thức hoá Đảng, tri thức hoá dân tộc, tiếp tục tri thức hoá công nông, cả nước là một xã hội học tập, phát huy truyền thống những ngày mới giành được độc lập 45, cả nước học chữ, cả nước diệt giặc dốt, cả nước diệt giặc đói… Phải nắm lấy ngọn cờ khoa học như đã nắm lấy ngọn cờ dân tộc. Một dân tộc dốt, một dân tộc đói nghèo là một dân tộc yếu” (Lê Khả Phiêu- Tổng bí thư ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam- Phát biểu tại hội thảo quốc tế tại Việt Nam trong thế kỷ 20) Không, dân tộc chúng ta nhất định không phải là dân tộc yếu. Chúng ta đã từng chiến thắng bọn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thắng lợi đó là thắng lợi của lực lượng trí tuệ Việt Nam đối với lực lượng sắt thép và đô la khổng lồ của Mỹ. Con người Việt Nam đã làm được những điều tưởng như không thể làm được, và tôi tin rằng, con người Việt Nam trong giai đoạn mới với những thử thách mới vẫn sẽ làm được những điều kỳ diệu như thế. Đất nước Việt Nam sẽ sánh vai được với các cường quốc năm châu cho dù hiện nay chúng ta gặp rất nhiều khó khăn, rất nhiều sự đối đầu.
Chính vì niềm tin bất diệt đó mà tôi chọn đề tài: Lý luận về con người và vấn đề về đào tạo nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước cho tiểu luận triết học của mình. Biết đâu, trong chút kiến thức bé nhỏ này lại có điều gì thật sự hữu ích …