Tiểu luận: “Vận dụng các nguyên lý về đảng kiểu mới của V.I.Lênin trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay”

MỞ ĐẦU

V.I. Lênin đã từng tuyên bố: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo lộn nước Nga lên”. Tổ chức những người cách mạng mà Lênin nói đến đó là “một đảng kiểu mới, thực sự cách mạng và thực sự cộng sản”. Bởi theo Người “chỉ có Đảng Cộng sản, nếu nó thực sự là đội tiền phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm tất cả những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý thức và trung thành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ; nếu nó biết gắn liền toàn bộ với cuộc sống của giai cấp mình và thông qua giai cấp đó, gắn liền với tất cả quần chúng bị bóc lột và biết làm cho giai cấp và quần chúng đó tin tưởng hoàn toàn vào mình”. Và, để cho Đảng “thực sự là đội tiền phong của giai cấp cách mạng”, kế thừa, phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph. Ănghen, V.I. Lênin đã phát triển thành học thuyết về “đảng kiểu mới” của giai cấp công nhân. Đồng thời, là người không chỉ có công đầu trong việc thành lập chính Đảng vô sản kiểu mới (Đảng Công nhân dân chủ – xã hội Nga – tiền thân của Đảng Cộng sản Liên Xô sau này) mà còn là lãnh tụ hết sức quan tâm chăm lo xây dựng Đảng về mọi mặt. Tư tưởng của Lênin về “đảng kiểu mới” và xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền chính là sự bảo vệ và phát triển sáng tạo, độc đáo học thuyết Mác về Đảng cách mạng trong điều kiện nước Nga những năm đầu của thế kỷ XX.
Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý về “đảng kiểu mới” của Lênin. Trãi qua quá trình phát triển và trưởng thành, Đảng ta đã chứng minh một cách sâu sắc sự đúng đắn của những nguyên lý của Lênin về xây dựng đảng. Chính nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam mà Đảng ta đã thành một đảng vô sản dồi dào sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cùng nhân dân tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn hiện nay, việc vận dụng quan điểm của Lênin về xây dựng “đảng kiểu mới” của giai cấp công nhân vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ đổi mới ở nước ta là một việc rất cần thiết nhằm thực hiện tốt công tác lãnh đạo và tổ chức công cuộc đổi mới đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Chính vì lẽ đó, tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng các nguyên lý về đảng kiểu mới của V.I.Lênin trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận.

Tiểu luận: “Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm về đoàn kết quốc tế của cách mạng Việt Nam (1954 -1975)”

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN LỊCH SỬ ĐẢNG

TIỂU LUẬN

HỌC PHẦN: NHỮNG BÀI HỌC CHỦ YẾU VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đề tài: “Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm về đoàn kết quốc tế của cách mạng Việt Nam (1954 -1975)”

Họ và tên : Vũ Minh Thành
Lớp : Cao học khoá 18 không tập trung.
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Na

Hà Nội, tháng 2 năm 2013

PHẦN MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết đoàn kết quốc tế là một truyền thống vô cùng quý báu, là bài học lịch sử vô giá trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thắm nhuần được truyền thống yêu nước-nhân nghĩa-đoàn kết của dân tộc, ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã tiếp thu, vận dụng và phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế trong suốt chặng đường cách mạng Việt Nam, từng bước đưa cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn, thử thách lớn, giàng thắng lợi hoàn toàn, thống nhất nước nhà và tiến lên xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như ngày hôm nay. Đoàn kết quốc tế đã trở thành một phương châm hành động và nó cũng là một trong những nhân tố cơ bản, có tính quyết định bảo đảm sự thắng lợi của cách mạng nước nhà, góp phần làm nên những mốc son chói lọi, những trang sử hào hùng trong lịch sử dân tộc. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991, cương lĩnh đã tổng kết năm bài học của cách mạng nước ta, trong đó có bài học “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế”.
Tập hợp lực lượng cho bất kỳ một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nào cũng có hai bình diện: quốc gia và quốc tế. Nếu tranh thủ được sự ủng hộ, liên hiệp hành động của các lực lượng quốc tế, thì sức mạnh của dân tộc sẽ được tăng lên gấp bội. Do vây, song song với chủ trương tập hợp sức mạnh dân tộc, Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm tới mặt trận quốc tế tập hợp lực lượng, tranh thủ mở rộng đoàn kết và ủng hộ quốc tế cho sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Việt Nam.
Nếu đoàn kết dân tộc là nhân tố quyết định thắng lợi của dân tộc thì đoàn kết quốc tế làm tăng thêm sức mạnh cho các dân tộc
Vì vậy từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới: “Cách mạng An Nam cũng là một phận trong cách mệnh thế giới. Ai là cách mệnh thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”.
Đảng ta luôn nhận thức và thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa phong trào cách mạng trong nước với phong trào cách mạng và lực lượng tiến bộ trên thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong cương lĩnh chính trị năm 1930 và cương lĩnh năm 1991, Đảng ta luôn quan tâm nhiệm vụ đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại một nhiệm vụ chiến lược.
Và cũng nhờ vào truyền thống quý báu đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân dân ta tiêu diệt, làm tan rã và xóa bỏ toàn bộ bộ máy chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi cuối cùng, thắng lợi này đã mở ra một giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam.-giai đoạn cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một chiến công lớn của thế kỷ XX, Mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, là một thiên anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Góp phần vào thắng lợi trường kỳ đó, có nhiều yếu tố và Đoàn kết quốc tế cũng là một trong những nguyên nhân cực kỳ quan trọng dẫn đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954-1975.
Với tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm về đoàn kết quốc tế của cách mạng Việt Nam (1954 -1975)”

Tiểu luận: Sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ, xây dựng chính quyền thời kỳ 1945-1946

LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc kháng chiến của nhân dân cả nước ta bùng nổ khi những khả năng đàm phán hoà bình với thực dân Pháp không còn nữa, khi thực dân Pháp buộc nhân dân ta phải đứng dậy bảo vệ nền độc lập, tự do vừa mới giành được.
Sau khi đánh chiếm thành phố Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn (20-11-1946), gây ra hai vụ thảm sát tàn khốc đồng bào ta ở hai phố Yên Ninh, Hàng Bún (ngày 17 và 18-12-1946)…chính phủ Pháp ngày càng lao sâu vào con đường gạt bỏ mọi khả năng thương lượng để xâm lược Đông Dương bằng vũ lực. Chủ trương gây chiến ở Hà Nội một lần nữa nói lên mưu đồ chiến lược của thực dân Pháp quyết tâm cướp lại toàn bộ nước ta, sau khi đã chiếm đóng một phần phía Nam Tổ quốc ta. Ngày 18-12-1946, đại diện của chính phủ Pháp ở Hà Nội trao tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài Chính, đòi ta phải phá bỏ mọi công sự và chướng ngại trên các đường phố, đòi để chúng làm nhiệm vụ giữ gìn trị an ở Hà Nội; đồng thời tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng ngày 20/12/1946 quân Pháp sẽ chuyển sang hành động.
Như vậy, đến thời điểm này thực dân Pháp đã dồn nhân dân ta đến con đường cùng, nếu không cầm vũ khí đứng dậy bảo vệ chủ quyền đất nước thì chỉ còn cách cam chịu làm nô lệ. Dân tộc Việt Nam nay bị đặt trước hai đường: một là khoanh tay cúi đầu trở lại nô lệ; hai là đấu tranh đến cùng để giành lấy tự do độc lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ lâu Đảng ta đã nhận định rằng cuộc chiến tranh xâm lược cả nước do Pháp gây ra và cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta chống Pháp xâm lược là không thể nào tránh khỏi. Xuất phát từ nhận định đó, Đảng đã có những chủ trương và biện pháp chuẩn bị kháng chiến. Qua 16 tháng giữ vững chính quyền nhân dân và chuẩn bị kháng chiến (9-1945 đến 12-1946), cách mạng nước ta đã lớn lên về mọi mặt. Chính quyền nhân dân đã được củng cố, bọn phản động tay sai đế quốc đủ các loại đã bị loại trừ ra khỏi bộ máy nhà nước. Lực lượng vũ trang nhân dân trưởng thành về cả số lượng và chất lượng. Đảng đã tổ chức được lực lượng lãnh đạo của mình ở các địa phương, trong các đoàn thể quần chúng, trong hệ thống chính quyền, trong các lực lượng vũ trang. Vì thế, nhân dân ta không những không bị bất ngờ trước cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp, mà còn có thể chủ động phá âm mưu của chúng.
Để góp phần tìm hiểu vai trò lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này, em chọn đề tài: Sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ, xây dựng chính quyền thời kỳ 1945-1946 làm tiểu luận hết môn học.

Tiểu luận: Nghệ thuật chỉ đạo kháng chiến và kết thúc chiến tranh của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

NỘI DUNG

Chiến tranh là thử thách lớn đối với mỗi quốc gia dân tộc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Thử thách đó càng lớn hơn nhiều với nước ta vào cuối nǎm 1946. Nền độc lập mới gình lại được 16 tháng, chính quyền chưa được củng cố vững mạnh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, nên các mặt đời sống xã hội chưa thật sự ổn đinh, mà dân tộc ta đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh trên quy mô toàn quốc. Sớm ý thức được “sự mâu thuẫn giữa Anh – Mỹ – Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh – Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương”, Đảng và Nhà nước ta đã tích cực, chủ động chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng đối phó với hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, đồng thời làm hết sức mình để cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp không mở rộng ra cả nước. Nhân dân ta muốn hoà bình, ta đã nhân nhượng, nhưng thực dân Pháp càng lấn tới, buộc nhân dân ta phải cầm súng để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám 1945. Vào lúc 20 giờ ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ.
I- ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CHI PHỐI TIẾN TRÌNH CUỘC KHÁNG CHIẾN.
Kháng chiến toàn quốc xảy ra trong điều kiện so sánh tương quan lực lượng không có lợi cho ta. Đối tượng tác chiến của ta là đội quân nhà nghề của thực dân Pháp, có trang bị tối tân, có trình độ tác chiến và chỉ huy cao – một quân đội có kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược, đã thống trị nước ta gần một thế kỷ, đội quân của một nước tư bản phát triển, có tiềm lực kinh tế, khoa học và kỹ thuật khá hiện đại. Đến cuối nǎm 1946, đội quân này gồm 10 vạn tên đã có mặt trên đất nước ta. Hành động đánh chiếm Việt Nam và Đông Dương của thực dân Pháp nằm trong âm mưu và chiến lược phản kích toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Pháp chiếm đóng Đông Dương nhằm ngǎn chặn làn sóng cách mạng và chủ nghĩa xã hội ở vùng Đông Nam châu á. Chính vì vậy Anh, Mỹ tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp trở lại xâm lược Đông Dương và điểm mấu chốt là Việt Nam. ở nước Pháp, giai cấp tư sản và lực lượng phản động được Mỹ giúp đỡ đang tích cực hoạt động trành giành quyền lực trên vũ đài chính trị. Trong lúc đó, lãnh tụ của Đảng xã hội Pháp từ chối hợp tác với Đảng cộng sản Pháp để giải quyết các vấn đề chính trị, xã hội. Điều đó tạo cơ hội thuận lợi cho lực lượng thân Mỹ và phái chủ chiến trong Chính phủ Pháp trong việc đánh chiếm lại Đông Dương và

Tiểu luận: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong giai đọa hiện nay

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc – một tác phẩm nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã đề cập rất nhiều nội dung cơ bản về tư cách, đạo đức người cách mạng, về phương thức, phong cách lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Lãnh đạo đúng có nghĩa là: phải quyết định mọi vấn đề một cách đúng đắn; phải tổ chức sự thi hành cho đúng; phải tổ chức sự kiểm soát. Như vậy, Người đã chỉ ra những yếu tố tạo nên sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, đó cũng chính là quy trình, cách thức, phương pháp lãnh đạo đúng đắn của Đảng
Khái niệm phương thức lãnh đạo của Đảng được dùng chính thức ở Việt Nam lần đầu tiên tại Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (3-1989) cùng với khái niệm hệ thống chính trị. Trong Nghị quyết Hội nghị đã ghi rõ: “Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị”, “đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng”, “Đảng ta phải tự đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của mình”.
Từ sau Đại hội VII trở đi, trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, khái niệm “phương thức lãnh đạo của Đảng” được dùng rất phổ biến và quen thuộc. Trong báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng giai đoạn 1975 – 1995 khẳng định phương thức lãnh đạo của Đảng là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng. Một số đề tài nghiên cứu khoa học xã hội cấp nhà nước giai đoạn 1996 – 2000 cho rằng, phương thức lãnh đạo không chỉ là vấn đề nghiệp vụ mà trở thành vấn đề có tính quan điểm.
Ph¬ương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các hình thức, phương pháp, biện pháp, qui trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà Đảng sử dụng để tác động vào các lực lư¬ợng xã hội, các tổ chức, cá nhân…, biến các chủ tương, đư¬ờng lối, chính sách của Đảng thành nhận thức và hành động của đối tư¬ợng lãnh đạo, nhằm thực hiện bằng đ¬ược các nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra
Phư¬ơng thức lãnh đạo của Đảng biểu hiện trên các mặt sau
– Về khoa học tổ chức: Là hành động kết hợp, liên kết, tổ chức lực lượng cách mạng dư¬ới sự tác động của đ¬ường lối của Đảng.
– Về tâm lý lãnh đạo: Là hành động khơi dậy tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình cách mạng, tính tích cực xã hội của nhân dân.
– Về năng lực lãnh đạo của Đảng: Là trình độ tổ chức mọi hoạt động lãnh đạo một cách khoa học, sáng tạo, hợp qui luật khách quan, phù hợp với từng đối tư¬ợng lãnh đạo, từng lĩnh vực hoạt động.
– Về nghệ thuật lãnh đạo: Là sự kết hợp nhuần nhuyễn tính cách mạng và tính khoa học, chiến lư¬ợc và sách l¬ược, sự nhiệt tình cách mạng và trí tuệ thông minh.
– Về hiệu quả lãnh đạo: Là những ph¬ương án hành động tối ư¬u để huy động lực lư¬ợng hành động đạt kết quả cao nhất, ít tốn kém nhất
“Phương thức lãnh đạo” không hoàn toàn đồng nhất với “phương thức hoạt động”; nó là một nội dung chủ yếu trong phương thức hoạt động của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền. Khi nói phương thức lãnh đạo thì không thể tách rời nội dung lãnh đạo, và được đặt trong mối quan hệ biện chứng với tổ chức bộ máy, cán bộ, cơ chế vận hành, phong cách công tác, lề lối làm việc của hệ thống tổ chức và mỗi con người cán bộ, đảng viên, công chức.
Phương thức lãnh đạo của Đảng có nhiều phạm vi và cấp độ khác nhau:
– Đảng lãnh đạo xã hội: bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại..