Tiểu luận: NHỮNG CẢI CÁCH, ĐỔI MỚI TRONG KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

MỤC LỤC

Lời mở đầu
Nội dung
I. Hoàn cảnh tiến hành đổi mới và cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam
1. Điểm tương đồng
2. Điểm khác biệt
II. Nền kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường ở Trung Quốc và Việt Nam
1. Ở Trung Quốc
2. Ở Việt Nam
III. Những cải cách và đổi mới trong kinh tế ở Trung Quốc và Việt Nam
1. Chế độ sở hữu
2. Nông nghiệp
3. Công nghiệp
4. Kinh tế đối ngoại
IV. Đường lối và chính sách mở cửa ở Trung Quốc và Việt Nam
V. Thành tựu đạt được ở Trung Quốc và Việt Nam trong cải cách, đổi mới
1. Ở Trung Quốc
2. Ở Việt Nam
VI. Những bài học kinh nghiệm trong đổi mới, cải cách
1. Ở Trung Quốc
2. Ở Việt Nam
Kết luận.

LỜI MỞ ĐẦU
Trước khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc đã trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến và thực dân. Vốn là quốc gia có diện tích lớn, đông dân, tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng dưới sự thống trị của phong kiến và thực dân làm cho nền kinh tế Trung Quốc lâm vào khủng hoảng, nghèo nàn, lạc hậu. Sau khi thành lập Trung Quốc đã lùa chọn con đường xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, đưa đất nước ngày càng phát triển. Những cuộc cải cách của Trung Quốc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội được ghi nhận như những cố gắng lớn lao nhằm tìm ra lối thoát cho một quốc gia xã hội chủ nghĩa trì trệ trở thành năng động, phát triển. Nó còn đóng góp nhiều kinh nghiệm cho các nước phát triển đi lên hiện đại.
Việt Nam là nước láng giềng với Trung Quốc, cũng phải trải qua nhiều năm dưới ách thống trị của phong kiến và chủ nghĩa đế quốc thực dân cùng với các cuộc chiến tranh liên miên đã làm cho đất nước bị tàn phá nặng nề. Ngay sau khi thành lập nước chúng ta đã kiên quyết xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội, cũng thực hiện nhiều cải cách trong kinh tế, nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của Việt Nam đã từ lâu quan tâm đến việc theo dõi cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc, lấy đó làm kinh nghiệm cho Việt Nam. Có người cho rằng công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam rất giống với cải cách kinh tế ở Trung Quốc, thậm chí cho rằng là “bản sao” của cuộc cải cách ấy. Tuy nhiên nếu xem xét kĩ thì thấy rằng bên cạnh nhiều điểm tương đồng, cải cách kinh tế và mở cửa ở Trung Quốc với đổi mới kinh tế ở Việt Nam còn có nhiều điểm rất khác nhau. Tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt này sẽ giúp cho ta thấy được những gì có thể tham khảo, những gì không thể hoặc không nên tham khảo từ cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc vào Việt Nam để có những đường lối chính sách phù hợp, thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế nói riêng và của toàn đất nước nói chung.

Tiểu luận: CẢI CÁCH THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở TRUNG QUỐC TỪ 1978 ĐẾN NĂM 2000 VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

Thế giới trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đầy biến động. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra hết sức mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến hầu hết các quốc gia dõn tộc, thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới. Chủ nghĩa tư bản (CNTB) vận dụng được những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, tiếp tục phát triển. Chủ nghĩa xã hội (CNXH) bộc lé những yếu kém khuyết tật, rơi vào khủng hoảng và sụp đổ ở Liờn Xụ và Đông Âu.
Những năm cuối của thập kỷ 70, đầu những năm 80, trong quan hệ quốc tế bắt đầu xuất hiện xu thế đối thoại chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, tranh thủ vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý của các quốc gia tiên tiến là thời cơ và thách thức đối với các nước đang phát triển, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và ý thức đầy đủ về xuất phát điểm kinh tế lạc hậu của đất nước, Trung Quốc và Việt Nam đã tiến hành cải cách mở cửa và đổi mới.
Hơn 20 năm qua, Trung Quốc tiến nhanh trên con đường cải cách mở cửa và đạt được những thành tựu đáng kể. Ngay trong thời gian gần đây, khi mà nhiều quốc gia trong khu vực gặp phải những khó khăn do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thì Trung Quốc vẫn tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao, sức mạnh đất nước được tăng cường, đời sống nhân dân được cải thiện, vị thế quốc tế được nâng cao.
Nguyên nhân đạt được những thành tựu to lớn nêu trên là do Trung Quốc đã tiến hành công cuộc cải cách toàn diện đất nước, trong đó cải cách thể chế kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời tiến hành từng bước cải cách thể chế chính trị và các lĩnh vực tương ứng khác.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có nhiều nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị. Công cuộc cải cách ở Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam đã và đang được tiến hành đều do Đảng cộng sản của hai nước khởi xướng và lãnh đạo. Trong lĩnh vực cải cách thể chế chính trị, Đảng Cộng sản Trung Quốc nêu lên mục tiêu là: Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) có đặc sắc Trung Quốc; còn Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ rõ: “mục tiêu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân”.
Như việc, việc nghiên cứu về cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc không chỉ có ý nghĩa khoa học, góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu công cuộc cải cách toàn diện ở đất nước này; mà còn có ý nghĩa gợi mở những suy nghĩ về việc tiến hành công cuộc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.

Tiểu luận: “Cải cách giáo dục, chìa khoá để cải cách nền kinh tế Trung Quốc”

MỞ ĐẦU

Từ khi nư¬ớc CHND Trung Hoa ra đời (01-10-1949) cho tới nay đã được hơn 60 năm phát triển. Tiến trình kinh tế, chính trị, xã hội có những b¬ước thăng trầm, đã có lúc rơi vào tình trạng khó khăn, đặc biệt là từ những năm cuối của thập kỷ 60 cho tới những năm đầu của thập kỷ 70, Trung Quốc bị khủng hoảng ở mọi phương diện. Như¬ng từ cuối thập kỷ 70 trở lại đây, Trung Quốc tiến hành công cuộc cải cách mở cửa, thì bộ mặt đất n¬ước có những thay đổi lớn đáng đ¬ược ghi nhận. Cùng với nó, sự nghiệp cải cách giáo dục Trung Quốc bắt đầu từ năm 1985 có những b¬ước phát triển mạnh mẽ, trở thành chiến l¬ược phát triển hàng đầu. Là mấu chốt của công cuộc cải cách mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc – khoa giáo hưng quốc.
Từ ý nghĩa đó, Tôi lựa chọn đề tài “cải cách giáo dục, chìa khoá để cải cách nền kinh tế Trung Quốc” làm tiểu luận hết môn học: Bài học kinh nghiệm từ công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới của các nước.

NỘI DUNG
I. Sự nghiệp giáo dục Trung Quốc từ khi nước CHND Trung Hoa ra đời (1949) đến nửa đầu những năm 80
1. Giáo dục Trung Quốc giai đoạn từ sau khi giành được độc lập (1949) cho tới những năm 50.
Thắng lợi của cách mạng dân chủ mới Trung Quốc (01-10-1949) đã đưa đến sự ra đời n¬ước CHND Trung Hoa. Sự kiện lịch sử trọng đại này có một ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn, không những đối với dân tộc Trung Hoa, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với thế giới. Nhưng sau khi cách mạng thành công, do bị chiến tranh tàn phá cộng với Trung Quốc là một nư¬ớc nông nghiệp lạc hậu, cho nên đất n¬ước Trung Quốc mới ra đời bị suy yếu nghiêm trọng về kinh tế. Hội nghị hiệp thương chính trị và hội nghị trung ư¬ơng 3 khóa VII của Đảng cộng sản Trung Quốc (06-06-1950) đã xác định khôi phục kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của đất n¬ước Trung Hoa lúc này. chính phủ Trung Quốc dùng các biện pháp tích cực để khôi phục kinh tế đất n¬ước. Qua 3 năm (1949- 1952), Trung Quốc đã thu đư¬ợc những thành tựu đáng phấn khởi cả về công và nông nghiệp. Mặt khác Trung Quốc còn tiến hành một số cải cách dân chủ khác tạo điều kiện cho Trung Quốc bước sang giai đoạn mới, đó là công cuộc xây dựng CNXH .
Tiếp sau giai đoạn khôi phục kinh tế thì Trung Quốc bước sang thời kỳ cải tạo XHCN và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phát triển kinh tế (1953- 1957) với hai nhiệm vụ chủ yếu là: thực hiện đường lối chung, từng bước cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp, tạo cơ sở bước đầu cho công cuộc công nghiệp hoá đất nước, cho nên giáo dục giai đoạn này đóng vai trò hết sức quan trọng cho công cuộc khôi phục đất nước và xây dùng cơ sở vật chất cho CNXH. Do vậy, phải xây dựng một nền giáo dục mới cho đất nước Trung Quốc mới ra đời tạo ra một bản sắc văn hoá mới dựa trên nền tảng văn hoá truyền thống.
Để đáp ứng được yêu cầu đó thì chính phủ Trung Quốc đã đặt vấn đề bồi dưỡng nhân tài cho công cuộc xây dựng đất nước càng trở nên cấp bách. Trong khi đó, sau khi chiến tranh kết thúc, Trung Quốc chỉ có vài triệu trí thức, với 80% dân số mù chữ. Trong khi đó, công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng cơ sở ban đầu cho CNXH đang cần rất nhiều người có năng lực, đặc biệt trong đội ngũ lãnh đạo đất nước. Nhưng trên thực tế trong số những người lãnh đạo quản lý đất nước thì có tới một nửa là mù chữ còn thiếu kinh nghiệm và tri thức xây dựng CNXH. Vì vậy, để đảm bảo cho thắng lợi của CNXH, và đảm bảo cho xây dựng đất nước Trung Quốc mới tiến lên thì phải có những chính sách đúng đắn bồi dưỡng hàng triệu người kế tục sự nghiệp cách mạng đã giành được.

Tiểu luận: THÀNH CÔNG CỦA TRUNG QUỐC TRONG THÀNH LẬP CÁC ĐẶC KHU KINH TẾ

LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra quá trình cải cách kinh tế sâu rộng ở hầu hết các nước XHCN. Việc chuyển sang các quan hệ thị trường ở những nước này đã được xác định và tiến hành. Mỗi nước đều tiến hành những biện pháp cải cách mang sắc thái riêng phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội và địa lí của mình nhằm xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đích thực. Mặc dù có nhiều khó khăn nhưng một số nước đã đạt được những thành công nhất định trong các lĩnh vực phát triển kinh tế khác nhau như quản lý kinh tế, quan hệ sở hữu, tư nhân hoá và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước…
Không phải ngẫu nhiên mà giới khoa học kinh tế rất quan tâm đến cái gọi là con đường Trung Quốc (China’s road). Quả thật Trung Quốc có sức hấp dẫn đặc biệt với những nước định hướng XHCN. Ở đây người ta thấy cùng hoàn cảnh xuất phát điểm tư duy kinh tế mới và tính chân lý của nó sau một thời gian cải cách và mở cửa nền kinh tế. Những thành công của Trung Quốc về cải cách kinh tế nói chung và các đặc khu kinh tế (ĐKKT) nói riêng đã được thừa nhận rộng rãi ở bên trong cũng như bên ngoài nước này. Sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc và sự phát triển thần kỳ của các ĐKKT được coi là một hiện tượng nổi bật của kinh tế thế giới cuối thế kỷ XX. ĐKKT – một loại hình khu kinh tế tự do mang tính chất tổng hợp được tổ chức theo hình thức cao nhất, đầy đủ nhất về khu kinh tế tự do – ngày càng thể hiện rõ ưu thế của mình trong thu hót đầu tư nước ngoài, là nơi hội tụ tốt nhất các yếu tố bên trong và các nguồn lực bên ngoài, là giải pháp về vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý để công nghiệp hoá- hiên đại hoá (CNH-HĐH) đất nước. Đẩy mạnh cải cách và phát triển mô hình kinh tế hướng ra bên ngoài với biện pháp xây dựng các ĐKKT theo mô hình của Trung Quốc đang là một trong những vấn đề được nhiều nước quan tâm nghiên cứu thực hiện.

Chương I
THÀNH CÔNG CỦA TRUNG QUỐC
TRONG THÀNH LẬP CÁC ĐẶC KHU KINH TẾ
I.Thành lập và quản lý các ĐKKT tại Trung Quốc
1. Quá trình thành lập các ĐKKT
1.1. ĐKKT trong chiến lược cải cách kinh tế của Trung Quốc
Trước khi thực hiện cải cách mở cửa kinh tế vào năm 1978, nền kinh tế Trung Quốc phát triển trên cơ sở lạc hậu, hạn chế các mối quan hệ kinh tế đối ngoại với bên ngoài. Là một nước XHCN xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp, Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm một con đường phát triển phù hợp với thực trạng của đất nước. Chính sách nửa đóng cửa, nửa mở cửa đôi khi đóng cửa hoàn toàn với thế giới bên ngoài đã đẩy nền kinh tế Trung Quốc vào tình trạng bế tắc. Sản xuất không ổn định, hoạt động thương mại cầm chõng và cơ sở hạ tầng rất kém phát triển. Các cuộc đại nhảy vọt đã đem lại sự phiêu lưu đầy lãng phí và rối ren cho toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc. Thêm vào đó những sai lầm của cuộc “đại cách mạng văn hoá vô sản” mà thiệt hại của nó đã lên đến 500 tỷ Nhân Dân Tệ (NDT) đã đẩy nền kinh tế Trung Quốc vào tình trạng khủng hoảng.
Xét vế đường lối đối ngoại trước năm 1978, thuyết “ba thế giới” của Mao Trạch Đông coi Mỹ và Liên Xô là thế giới thứ nhất, Nhật Bản và các nước Tây Âu là thế giới thứ hai, tù coi mình là thế giới thư ba, Trung Quốc đã tự chuốc lấy sự xa lánh của thế giới và thực sự bị cô lập. Cùng với những xung đột về tư tưởng chính trị trong nước, đường lối đối ngoại trên đã gây thiệt hại lớn cho Trung Quốc.
Trước tình hình đó, Đảng Cộng Sản và nhân dân Trung Quốc đã tìm mọi cách để thoát ra. Do đó, nhu cầu cần có một cuộc cải cách làm thay đổi và chuyển biến căn bản tình hình và đưa Trung Quốc vào quỹ đạo phát triển của thế giới là cần thiết. Điều đó đòi hỏi phải cải cách thể chế XHCN mà trước hết là thể chế kinh tế và thể chế chính trị. Trong lúc nền kinh tế xã hội Trung Quốc đang đứng trên bờ vực sụp đổ thì những thay đổi lớn lao về nhận thức này là ngọn gió tốt lành giúp Trung Quốc giải quyết được những vấn đề sai lầm do quá khứ để lại, mở đường cho sức sản xuất phát triển, là động lực mạnh mẽ góp phần đưa đất nước Trung Quốc đi tới một tương lai tốt đẹp hơn.

Tiểu luận: Giải quyết vấn đề dân tộc – dân chủ qua các cương lĩnh của Đảng

LỜI MỞ ĐẦU

Từ khi thành lập Đảng cho đến nay, trải qua hơn tám mươi năm đấu tranh anh dũng, Đảng ta đã đưa giải cấp công nhân và nhân dân Việt Nam vượt qua những bước đường đầy chông gai, gian khổ và đã giành được những thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi đó chứng tỏ đường lối lãnh đạo của Đảng ta là đúng đắn. Đó là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin trong một nước nông nghiệp và thuộc địa ở Đông Nam Á, đó là kinh nghiệm vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào những điều kiện cụ thể của Việt Nam; mà trong đó không thể không kể đến công lao to lớn của vị lãnh tụ vĩ đại Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.