Luận văn: Đảng lãnh đạo kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong thời kỳ đổi mới

MỤC LỤC

Nội dung Trang
Phần mở đầu 2
Phần nội dung 6
Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế 6
I- Cơ sở lý luận của vấn đề kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế 6
II- Truyền thống kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế của Đảng trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ 13
Chương II : Đảng với sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới 21
A- Thực trạng đất nước trước năm 1986 21
B- Thời kỳ đổi mới 23
I- Phát huy sức mạnh dân tộc, mở rộng quan hệ đối ngoại trên mọi phương diện, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại trong thời kỳ mới 23
II- Tiếp tục sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước trong sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế 37
III- Những thành tựu đạt được sau 15 năm đổi mới trong sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế 50
IV- Phương hướng của sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong thời kỳ đổi mới 53
V- Những kết luận về sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế trong thời kỳ đổi mới 56
Phần kết luận 58

PHẦN MỞ ĐẦU

I- TÍNH CẤP THIẾT CỬA ĐỀ TÀI
Khát vọng về cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc là khát vọng của mỗi con người. Đối với mỗi quốc gia trên thế giới để có được một xã hội tiến bộ, một cuộc sống hài hoà, một nền kinh tế phát triển thì vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại phải được quan tâm đặt lên vị trí hàng đầu trong chính sách đối ngoại. Với chiều dài lịch sử hàng trăm năm nay thì sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vẫn là một vấn đề mang tính chiến lược trong sự tồn tại và phát triển của tất cả các nước. Đối với các nước đang phát triển thì vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại là một vấn đề không mới, trong kháng chiến giành độc lập dân tộc nhờ sự kết hợp sức mạnh trong nước và quốc tế mà họ đã đánh đuổi được quân xâm lược. Vì vậy trong thời kì đổi mới đòi hỏi các nước đang phát triển phải tăng cường mở rộng hơn nữa sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế để tiến hành xây dựng đất nước.
Dân tộc việt nam cũng vậy để có được cuộc sống hoà bình, hạnh phúc thì ngay từ xa xưa cha ông ta đã biết vận dụng sức người sức của, vận dụng sức mạnh đoàn kết toàn dân và tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài tạo thành sức mạnh để xây dựng đất nước
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ đã thể hiện sâu sắc lòng qyết tâm giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Duới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản dân tộc ta đã biết đoàn kết một lòng, tự lực tự cường, thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân. Không phân biệt già trẻ gái trai, tôn giáo đảng phái ….. kết hợp sức mạnh trong nước với quốc tế làm nên những chiến thắng rực rỡ từ cách mạng tháng 8 – 1945 đến chiến thắng 1954- chiến thắng Điện Biên Phủ làm chất động địa cầu đến mùa xuân 1975 ta đẫ giành được thắng lợi hoàn toàn, giang sơn về một mối, đất nước đi vào xây dựng cuộc sống mới hoà bình Êm no.
Nh­ vậy trong thời kì cách mạng dân tộc dân chủ sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã được đảng ta vận dụng để chiến thắng kẻ thù mang lại độc lập tự do cho đất nước. Nhưng trong thời kỳ đổi mới với xu thế thời đại mới sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại được Đảng ta vận dụng như thế nào. Ngay từ đại hội đảng VI – 1986 Đảng đã chủ chương đẩy mạnh sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Đại hội đảng VII, VIII, IX tiếp tục kế thừa và phát triển đường lối đúng đắn đó.
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới với những thành tựu đã đạt được, chứng tỏ quan điểm của đảng về sự đẩy mạnh kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong thời kì đổi mới là đúng đắn. Tuy nhiên có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được làm sáng tỏ. Trong xu thế thời đại mới sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế còn là tất yếu khách quan đối với nền kinh tế nước ta hay không? Nhìn nhận sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế của nước ta trong những năm qua như thế nào? nó có vai trò nh­ thế nào trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Quan điểm, nội dung cụ thể, giải pháp bước đi của đảng ta trong sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế ra sao? đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều người. Với lý do đó tôi chọn đề tài: “Đảng với sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới”
II- MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI.
Với mục đích làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng và sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong cách mạng Việt Nam thời kỳ đôỉ mới, nhiệm vụ đặt ra là phải xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của dề tài. Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát chi tiết, cụ thể những chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng trong sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế của đất nước, đề tài sẽ làm rõ sự cần thiết phải có sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế, đó là vấn đề khách quan trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói riêng và trong sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung. Trên cơ sở đó đề tài sẽ làm rõ được quan điểm, nội dung, bước đi của sự kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại thông qua các kỳ Đại hội, bắt đầu từ Đại hội VI cho đến nay.
III- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.
Đây là một đề tài rất rộng lớn về nội dung, phạm vi góc độ. Từ trước đến nay đã có rất nhiều người nghiên cứu về vấn đề kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế của Đảng. Song chủ yếu là nghiên cứu trong phạm vi : Đảng với sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong suốt cả thời kỳ trước và sau đổi mới,chủ trương chính sách đối ngoại nói chung của Đảngvà Nhà nước trước và sau đổi mới …. Một số đề tài còn nghiên cứu từng góc độ của sự kết hợp dân tộc và quốc tế như : Sẵn sàng là bạn chủ động hội nhập, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới … Ngoài ra còn một số bài báo được đăng trên các tạp chí như : Nắm chắc thời cơ vượt qua thách thức, tạo những điều kiện để chủ động hội nhập ; phát huy sức mạnh dân tộc với sự ngiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…..
Ở đề tài này với thời gian và trình độ có hạn tôi đi vào nghiên cứu : “Đảng với sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc Õ trong cách mạng Việt Nam trong thời kì đổi mới. ”
IV – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khoá luận khảo sát và nghiên cứu các quan điểm, đường lối chủ trương, phương hướng giải quyết của Đảng ta về sự kết hợp hài hoà nhân tố dân tộc và quốc tế trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế vốn có từ khi cha ông ta bắt đầu dựng nước và giữ nước , trải qua bao thời kỳ lịch sử đất nước và duy trì cho đến ngày nay. Nhưng trong thời kỳ mới sự kết hợp đó phải được phát triển như thế nào? từ đó có thể sử dụng những phương pháp sau để nghiên cứu.
1. Phương pháp thống kê phân loại : Sử dụng phương pháp này nhằm thu nhập và xử lý những tư liệu cần thiết có liên quan đến sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế của Đảng ta trong cách mạngViệt Nam trong thời kỳ đổi mới.
2. Phương pháp phân tích và tổng hợp khái quát: Sử dụng phương pháp này trên cơ sở phân tích mổ xẻ từng vấn đề cụ thể sau đó tổng hợp lại thành từng luận điểm rồi nâng lên tầm khái quát chung.
Ngoài ra để nghiên cứu, đề tài này còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp diễn dịch và quy nạp nhằm tổng hợp nhấn mạnh một số vấn đề đã phân tích.
V- NHỮNG NÉT MỚI TRONG ĐỀ TÀI.
Nét mới ở đây là đề tài nghiên cứu khảo sát sâu hơn, kỹ hơn, toàn diện hơn những quan điểm, chủ chương của Đảng với sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong cách mạng Việt Nam kể từ năm 1986 trở lại đây
Hiện nay xu thế thế giới đang bước vào quá trình toàn cầu hoá, đòi hỏi mọi quốc gia trên thế giới phải chủ động hội nhập vì vậy nét mới ở đây là nghiên cứu sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế của Đảng ta trong sự phát triển của xu thế thế giới hiện đại.

VI- Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
Về mặt lý luận đề tài nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ gắn bó giữa đoàn kết dân tộcvà đoàn kết quốc tế. Thực chất đề tài nghiên cứu sự áp dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước của Đảng trong sự nghiệp đổi mới. Vì vậy nghiên cứu đề tài sẽ giúp người viết bước đầu làm quen với việc đọc và tìm hiểu tài liệu, rèn luyện tư duy khoa học. Qua nghiên cứu đề tài sẽ thấy được sự đúng đắn khoa học của chủ nghĩa Mác -Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó người đọc sẽ giữ vững quan điểm và lập trường đúng đắn của học thuyết chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Về mặt thực tiễn: đề tài khảo sát trên thực tế Đảng ta với sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế trong cách mạng Việt Nam vào thời điểm từ năm 1986 đến nay. Chính vì vậy qua đề tài người đọc sẽ thấy được sự phát trriển của đất nước qua các số liệu đề tài thống kê, thấy được sự pháp triển hẳn về chất khi có sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế trong thời kỳ mới. Đặc biệt qua đề tài chúng ta sẽ thấy được quan điểm đúng đắn của Đảng ta về sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong thời kỳ đổi mới, từ đó sẽ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào chủ trương của Đảng có ý thức thực hiện nó. Đồng thời qua đề tài chúng ta sẽ tin tưởng vững chắc vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước, tin tưởng vào một xã hội tiến bộ trong tương lai.

Tiểu luận: Đảng lãnh đạo đoàn kết, tập hợp lực lượng của Mặt trận Việt Minh trong cách mạng tháng 8 năm 1945

MỞ ĐẦU

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi nhanh, gọn, ít đổ máu. Thắng lợi đó là một quá trình đấu tranh xây dựng lực lượng, trải qua các cuộc tập dượt đấu tranh, mà trực tiếp là phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Trong quá trình đó, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung xây dựng được một lực lượng chính trị hùng hậu; từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, là chỗ dựa vững chắc, giữ vai trò nòng cốt, xung kích, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ vang, chói lọi nhất của dân tộc. Cuộc cách mạng vĩ đại đó đã để lại cho dân tộc ta nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu, trong đó có nội dung về phát huy sức mạnh của dân tộc, đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Dân tộc thống nhất.
Để góp phần làm rõ hơn đường lối đoàn kết tập hợp lực lượng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, em chọn nội dung “Đảng lãnh đạo đoàn kết, tập hợp lực lượng của Mặt trận Việt Minh trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945” làm tiểu luận hết môn học.

Tiểu luận: Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại thời kỳ đổi mới

PHẦN MỞ ĐẦU

Từ giữa những năm 80, tình hình thế giới có nhiều diễn biến mới: Xu thế vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong hình thái cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị – xã hội khác nhau ngày càng gia tăng; phát triển kinh tế trở thành mục tiêu hàng đầu đối với các quốc gia. Quan hệ quốc tế đã chuyển từ căng thẳng sang hoà dịu, từ đối đầu sang đối thoại, từ hai cực sang đa cực, làm nảy sinh xu hướng nhất thể hoá quốc tế, toàn cầu hoá, phô thuộc lẫn nhau. Tình hình nước ta gặp nhiều khó khăn, phức tạp: Khủng hoảng kinh tế – xã hội; sự bao vây cô lập của các thế lực thù địch, làm trầm trọng thêm khủng hoảng và làm suy giảm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, trải qua gần 20 năm thực hiện đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn: Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài trầm trọng, từ đó nâng cao vị thế của dân téc, chuyển nước ta sang một chặng đường mới của thời kỳ quá độ: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Mét trong những nhân tố góp phần quyết định thành công của công cuộc đổi mới là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại. Công tác đối ngoại đúng đắn đã cho phép Đảng – Nhà nước khai thác tốt các nhân tố quốc tế, kết hợp sức mạnh dân téc và sức mạnh thời đại một cách có hiệu quả. Công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước thời kỳ (1986 – 2001) đổi mới mang đậm bản sắc dân téc, truyền thống ngoại giao trong lịch sử và được nâng cao lên tầm cao mới. Việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng với công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2001) nhằm làm rõ những quyết sách đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong 15 năm đổi mới.
Thông qua việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2001), tác giả mong muốn được trang bị cho bản thân sâu sắc hơn kiến thức chuyên môn, để phục vụ tốt hơn cho công tác, góp phần xây dựng và bảo vệ Đảng. Với những lý do nêu trên, nên tôi chọn đề tài nghiên cứu: Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2001) làm bài tiểu luận học phần: Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay.

Tiểu luận: Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1975 – 1986

MỞ ĐẦU
Thực tiễn hơn 80 năm qua đã khẳng định rằng, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, mà trước hết là từ tính đúng đắn, kịp thời phản ánh những xu thế vận động của thực tiễn trong nước và thế giới của đường lối cách mạng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nếu như thời điểm năm 1930, khi mà lịch sử dân tộc ta đang trong mò mẫm, tìm con đường giải phóng và tiến lên của dân tộc, thì Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, công bố Cương lĩnh chính trị, đường lối cứu nước theo con đường cách mạng vô sản. Tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã dẫn dắt nhân dân ta giành được những thắng lợi có ý nghĩa vĩ đại trong thế kỷ XX. Đến cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ trước, đất nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng. Các nước xã hội chủ nghĩa cũng trong hoàn cảnh tương tự, đang bắt đầu nhận thức lại chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của mỗi nước, nhận thức lại những vấn đề lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin trên cơ sở khoa học và thực tiễn cuộc sống; từ đó đề ra đường lối tiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới để thúc đẩy chủ nghĩa xã hội tiếp tục tiến lên. Trong khi đó, các nước tư bản chủ nghĩa cũng có những chuyển biến mạnh, nhất là việc áp dụng những thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba vào trong hoạt động sản xuất và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Thực tiễn đặt ra yêu cầu bức bách là cần phải đổi mới, đổi mới một cách toàn diện. “Thế giới ngày nay đang nhanh chóng đổi mới. Chủ nghĩa xã hội phải phấn đấu để chứng minh tính ưu việt của mình về mọi mặt so với chủ nghĩa tư bản trên thực tế. Đối với cộng đồng xã hội chủ nghĩa, đổi mới là con đường vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thời đại, đáp ứng những nhu cầu chính đáng và ngày càng cao của nhân dân. Đối với nước ta, đổi mới cũng là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn. Yêu cầu đó vừa là đòi hỏi bên trong của nền kinh tế nước ta, vừa phù hợp với xu thế mới của thời đại” .
Đáp ứng yêu cầu đó, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã diễn ra và quyết định thông qua đường lối xây dựng đất nước với tinh thần, tư duy đổi mới toàn diện, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Đường lối đổi mới đó, không phải là sản phẩm chủ quan của Đảng mà nó được kết tinh từ nhiều yếu tố khác nhau cùng tác động (trên cả phương diện trong nước và quốc tế, từ lý luận cho đến thực tiễn khó khăn của đất nước, từ truyền thống tư duy của dân tộc cho đến yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới, v.v…).
Công cuộc đổi mới của Việt Nam đã tiến hành được hơn 2 thập kỷ và những thành tựu đạt được đã làm cho diện mạo của đất nước ta chuyển biến hàng ngày. Nếu như trước đây, những năm đầu khi bắt đầu đổi mới, đất nước ta vẫn còn trong tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, thì nay đã thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh. Nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế khu vực và toàn cầu. Đặc biệt từ cuối năm 2007 cho đến đầu năm 2010, với nỗ lực của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta, Việt Nam đã cơ bản vượt qua những tác động xấu từ cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính diễn ra ở nhiều nước trên thế giới. Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được ở mức gần 6,8%. Trên nhiều lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng, v.v… cũng có những thay đổi mạnh mẽ.
Những thành tựu công cuộc xây dựng đất nước trong thời gian qua bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng cơ bản và xuyên suốt là trên nền tảng của đường lối đổi mới mà Đảng ta dày công hoạch định từ đầu thời kỳ đổi mới và tiếp tục được bổ sung, phát triển từ đó cho đến nay.
Xuất phát từ vấn đề đó, tôi lựa chọn vấn đề: Quá trình tìm tòi khảo nghiệm đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam ta làm tiểu luận học phần: Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước 1975 – 1986.

Tiểu luận: Công cuộc đổi mới ở Việt Nam, đặc trưng và triển vọng

CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM: ĐẶC TRƯNG VÀ TRIỂN VỌNG

Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra và phân tích những đặc trưng chủ yếu và triển vọng của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Theo tác giả, những đặc trưng cơ bản của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là: Đổi mới được tiến hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, được tiến hành một cách tuần tự, từng bước; đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới hệ thống chính trị; đổi mới để phát triển trong ổn định; đổi mới gắn liền với mở cửa với thế giới bên ngoài. Triển vọng của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là tốt đẹp, bởi nó được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam và luôn gắn kết thực tiễn với khái quát lý luận.
Việt Nam bước vào sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước và tiến hành như một cuộc cách mạng thực sự chỉ bắt đầu từ năm 1986. Nhưng trước đó, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế mang tính chất đổi mới. Những đổi mới này vừa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, vừa là những bước tìm tòi, thử nghiệm con đường phát triển của Việt Nam. Mặc dù, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú trọng đến vấn đề phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Nhưng lúc đó và cả sau này, khi cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội thì vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam có nội dung cốt lõi là thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Chủ trương này là phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc đó nhưng càng về sau, nhất là khi cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nó càng bộc lộ sự yếu kém trong nhận thức và vận dụng một cách sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào từng giai đoạn phát triển cụ thể của cách mạng Việt Nam. Đó là vấn đề nông nghiệp, nông dân khi đất nước chuyển giai đoạn nhưng trên thực tế lại không được coi trọng, không nhìn thấy tầm chiến lược của nó trong sự phát triển nền kinh tế – xã hội ở một nước sản xuất nông nghiệp. Sự kéo dài chủ trương đó, hơn nữa lại có sai lầm trong thực hiện đã làm cho nền kinh tế Việt Nam thực sự rơi vào một cuộc khủng hoảng.(*)Vì vậy, công cuộc đổi mới của Việt Nam có xuất phát điểm trước hết từ chính yêu cầu phát triển nội tại của đất nước. Nó được bắt nguồn từ nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước, từ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân lao động, từ kinh nghiệm sáng tạo của một số cơ sở, địa phương. Trên cơ sở nhận thức lại chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ năm 1986.