Luận văn: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Xã, thị trấn (cấp xã) là nơi phần đông nhân dân cư trú, sinh sống, vì vậy hệ thống chính trị cấp xã có vai trò quan trọng trong việc ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức vận động nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức cuộc sống cộng đồng dân cư. Một trong những nhân tố cơ bản đảm bảo sự ổn định và phát triển ngay từ cơ sở là chất lượng đội ngũ công chức cấp xã. Đội ngũ công chức cấp xã là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ cơ sở, có vai trò quyết định chất lượng tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính cấp xã, là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Hiện nay, để xây dựng một nền hành chính dân chủ trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại; một nền công vụ hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong đó có đội ngũ công chức cấp xã có số lượng, cơ cấu phù hợp, có phẩm chất đạo đức tốt và năng lực thi hành công vụ, tận tụy với công việc là nhiệm vụ cấp thiết. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chủ trương: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước”.

Đề án “ Tăng cường quản lý thu BHXH trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội”

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Lý do lựa chọn đề án
BHXH là chính sách nòng cốt trong hệ thống an sinh xã hội. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới rất coi trọng chính sách BHXH, bởi việc thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ góp phần bảo đảm ổn định cuộc sống cho người lao động nói chung, góp phần ổn định chính trị và đảm bảo an toàn xã hội. Nhận thức rõ tầm quan trọng của BHXH nên Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm thường xuyên đến việc thực hiện các chế độ chính sách BHXH đối với cán bộ, công chức, quân nhân và người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngay từ khi thành lập nước.
Quỹ BHXH là xương sống của bất kỳ một hệ thống BHXH nào. Bởi vì các chế độ BHXH đều nhằm mục đích đảm bảo an toàn về đời sống của người lao động, quỹ BHXH góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ. Đồng thời hạn chế những tệ nạn xã hội xảy ra do nguyên nhân của thất nghiệp và nghèo đói, xây dựng một nền an ninh xã hội bền vững. Mặt khác, cũng giúp cho giới chủ ổn định sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhờ vậy mà kinh tế đất nước sẽ được phát triển nhanh chóng và bền vững bởi được tăng trưởng về chất.
Thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai. BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng, có hưởng đã đặt ra yêu cầu đối với thu nộp BHXH. Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ. Vì thế, thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng và quyết định đến khả năng thực hiện chính sách BHXH, qua đó ảnh hưởng đến việc đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ cũng như tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động.
Hoạt động quản lý thu BHXH là nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH. Để thu BHXH đạt hiệu quả cao thì công tác quản lý và tổ chức thu BHXH phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất, khoa học trong cả hệ thống, từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả và quản lý tiền thu BHXH…
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua quản lý thu BHXH ở nước ta còn bộc lộ những hạn chế như¬: số đơn vị, số lao động ch¬ưa tham gia BHXH còn rất lớn, tỷ lệ gia tăng về mức lương tham gia BHXH hàng năm ch¬ưa cao, số đơn vị nợ đọng BHXH tăng nhanh,… gây ra những ảnh hư-ởng tiêu cực về quyền lợi đối với NLĐ. Bên cạnh đó, tăng tr¬ưởng nguồn thu BHXH còn thấp, ch¬ưa tương xứng với tiềm năng.

Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về an toàn lao động trong thi công công trình ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Để quản lý xã hội, đòi hỏi mỗi nhà nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hệ thống pháp luật hoàn thiện chưa đủ, ván đề quan trọng hơn là tổ chức thực hiện như thế nào để pháp luật đó đi vào cuộc sông thực tiễn, để những quy định của Nhà nước được thực thi trong thực tế nhằm ổn định và phát triển xã hội theo định hướng của giai cấp cầm quyền.
Ở nước ta, trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém: Việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa tốt; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm; tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật, vi phạm pháp luật… đã gây những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình, xã hội. Do đó việc đề cao pháp luật, tôn trọng tính tối cao của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh luôn là yêu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động tạo ra của cải vật chất cũng như các sản phẩm tinh thần đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người và đời sống xã hội, trong đó con người đóng vai trò là động lực phát triển xã hội. Sản xuất càng phát triển thì vấn đề đảm bảo an toàn và sức khỏe người lao động càng phải được coi trọng. Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Chúng ta phải quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội. Chúng ta cần phải hết sức bảo vệ không để xảy ra tai nạn lao động”.

Đề án tuyển dụng, đào tạo trí thức trẻ, có trình độ đại học về công tác ở cơ sở

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của Đề án
Đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cán bộ cơ sở) có vị trí, vai trò rất quan trọng, là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở cơ sở. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã xác định: “xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”.

Đề án nâng cao chất lượng hoạt động của hội nông dân cơ sở

MỤC LỤC

Phần 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 1
1.2. MỤC TIÊU ĐỀ ÁN 3
1.2.1. Mục tiêu chung 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.4. GIỚI HẠN ĐỀ ÁN 4
1.4.1. Về đối tượng 4
1.4.2. Về không gian 4
1.4.3. Về thời gian 4
Phần 2. NỘI DUNG 5
2.1. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 5
2.1.1. Căn cứ khoa học, lý luận 5
2.1.2. Căn cứ chính trị, pháp lý 8
2.1.3. Căn cứ thực tiễn 10
2. NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 11
2.2.1. Thực trạng hoạt động Hội nông dân ở cơ sở trên địa bàn huyện Khoái Châu trong những năm qua. 11
2.2.2. Nội dung cụ thể cần xây dựng đề án 19
2.2.3. Các giải pháp thực hiện Đề án 20
2.3.TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 29
2.3.1. Những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện đề án 29
2.3.2. Kinh phí thực hiện Đề án 30
2.3.3. Kế hoạch, Tiến độ thực hiện Đề án 30
2.3.4. Phân công trách nhiệm thực hiện Đề án 31
2.4.1. Sản phầm của đề án. 33
2.4.2. Ý nghĩa thực hiện Đề án 33
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
3.1. KẾT LUẬN 36
3.2.KIẾN NGHỊ 38
3.2.1. Kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước 38
3.2.2. Kiến nghị với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam 38
3.2.3. Kiến nghị đối với Hội Nông dân tỉnh và các ban, sở ngành đoàn thể tỉnh Hưng Yên 38
3.2.4. Kiến nghị đối với Huyện ủy 38
3.2.5. Kiến nghị đối với UBND huyện 38
3.2.6. Kiến nghị đối với các ban, ngành, đoàn thể huyện có liên quan 39
3.2.7. Kiến nghị đối với Hội Nông dân cơ sở, chi hội 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCH : Ban chấp hành
BCĐ : Ban chỉ đạo
BTV : Ban thường vụ
HĐND : Hội đồng nhân dân
HND : Hội nông dân
PTNT : Phát triển nông thôn
UBND : Ủy ban nhân dân

Phần 1. MỞ ĐẦU

1.1. LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân được thành lập và phát triển dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội Nông dân Việt Nam tiền thân là Nông hội đỏ, thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng và dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới.
Mục đích của Hội là tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.