MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Xây dựng và thực hiện Qui chế dân chủ ở cơ sở là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa đột phá để giải quyết nhiều vấn đề bức xúc liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [32, tr.515]. Nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo những lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm khẳng định mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng, của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước. Xây dựng chế độ nhà nước dân chủ với nguyên tắc “Toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng và Nhà nước ta.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6 năm 1997) khẳng định, khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.
Với tinh thần đó, Đại hội IX, X của Đảng khẳng định vị trí, tầm quan trọng lâu dài và cấp thiết của vấn đề dân chủ, khẳng định mục tiêu chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhằm phát huy đầy đủ, hiệu qủa quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 18/2/1998 Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII đã ra chỉ thị số 30 về việc xây dựng và thực hiện Qui chế dân chủ ở cơ sở. Thể chế hoá chỉ thị của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa X) ban hành các Nghị quyết số 45/1998, sè 55/1998, sè 60/1998 giao cho Chính phủ ban hành các Nghị định về thực hiện qui chế dân chủ ở ba loại hình cơ sở. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998, sè71/1998 và số 07/1999, trong đó NĐ 29/1998 quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã, NĐ 71/1998 quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính và NĐ 07/1999 quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước.
Việc ra đời Chỉ thị số 30-CT/TW và các Nghị định của Chính phủ ban hành qui chế thực hiện dân chủ ở cơ sở vừa thể hiện tính cấp thiết của việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời còn đặt ra yêu cầu đối với việc xây dựng đội ngò cán bộ, công chức có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, làm việc có năng suất và chất lượng, không tham nhòng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân. Nhân dân có quyền được công khai bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn bó với quyền lợi và nghĩa vụ của trực tiếp của mình, đồng thời phát huy dân chủ đại diện, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương cơ sở. Thực tiễn cho thấy: ở đâu cấp ủy đảng nhận thức rõ và quan tâm chăm lo đúng mức tới việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thì ở đó kinh tế phát triển, đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, an ninh chính trị được giữ vững, ổn định, thu hót và tạo được niềm tin của nhân dân với Đảng với chính quyền, động viên và huy động được sức lực, trí tuệ của nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương đạt hiệu quả cao. Ngược lại, nếu như địa phương nào, cơ sở nào không thường xuyên quan tâm đến việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, hoặc triển khai thực hiện một cách hình thức, qua loa đại khái thì ở đó đời sống nhân dân gặp khó khăn, kinh tế nhập nhằng, chậm phát triển, an ninh chính trị mất ổn định, tình hình kiến nghị, khiếu kiện vượt cấp của nhân dân gia tăng, vv… dẫn đến phát sinh một số điểm nóng ở một số cơ sở như: Thái Bình, Hà Tây, Hưng Yên… đã từng xảy ra.
Thực hiện dân chủ ở cơ sở luôn là vấn đề mang tính thời sự và đòi hỏi phát triển không ngừng, đầy tính sáng tạo. Vì thế, chúng ta vừa phải đi sâu nghiên cứu và nhận thức đúng đắn về lý luận, vừa phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để tìm ra hình thức biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp đưa Quy chế dân chủ vào cuộc sống. Từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủ trương xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cho đến nay, chóng ta đã triển khai thực hiện rộng khắp trong cả nước và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước. Việc triển khai xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở thời gian qua đã chứng tỏ đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đáp ứng được nhu cầu bức thiết và lợi Ých to lớn trực tiếp của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, được nhân dân phấn khởi đón nhận và tích cực thực hiện, vận động thực hiện, thể hiện tính ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Từ đó người dân đã hiểu rõ hơn về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở có ý thức hơn về dân chủ và tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, vẫn còn một số địa phương, đơn vị chưa có chuyển biến nhiều do nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về Quy chế dân chủ ở cơ sở trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực tiễn cho thấy ở những nơi phong trào yếu kém, cán bộ có khuyết điểm, thiếu trách nhiệm đều không muốn triển khai thực hiện hoặc triển khai hình thức, qua loa, chiếu lệ, kiểu làm cho xong việc. Tuy nhiên, cũng có những cán bộ nhiệt tình thực hiện nhưng do trình độ hạn chế, không nhận thức đúng việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nên quá trình triển khai, thực hiện còn nhiều khuyết điểm, yếu kém, chưa đạt yêu cầu và nội dung của quy chế. Vì thế, chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở bị hạn chế. Mặt khác còn một bộ phận nhân dân thường chỉ quan tâm đến quyền lợi nhiều hơn nghĩa vụ, chưa làm tốt nghĩa vụ công dân. Thậm chí có hiện tượng lợi dụng dân chủ và dân chủ cực đoan. Trước tình hình đó, vấn đề nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đề xuất những giải pháp thích hợp, nhằm nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế này trở thành yêu cầu khách quan, cấp bách.
Do điều kiện thời gian, kinh phí không cho phép nghiên cứu đầy đủ và toàn diện vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ ở cả ba loại hình cơ sở trên phạm vi toàn quốc, vì thế tôi chỉ giới hạn nghiên cứu Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (cấp xã) trên địa bàn một địa phương cụ thể.
Từ những cơ sở lý luận thực tiễn nêu trên tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sĩ luật học với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở Hưng Yên, đồng thời góp phần hoàn thiện lý luận về thực hiện Quy chế dân chủ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề dân chủ, dân chủ ở cơ sở, quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở từ lâu đã thu hót sự quan tâm chú ý của nhiều nhà khoa học, những người làm công tác lý luận nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này của các cá nhân, tập thể được công bố. Ví dụ:
– “Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, 2003 của TS. Nguyễn Văn Sáu và GS. Hồ Văn Thông.
– “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, 2005 của TS. Nguyễn Văn Sáu và GS. Hồ Văn Thông chủ biên.
– “Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã – Mét số vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Dương Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
– “Thực hiện dân chủ trong thời kỳ đổi mới ở nước ta”, của Th.S Hoàng Văn Nghĩa, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8, năm 2002.
– “Tiếp tục thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở”, của TS. Đặng Đình Tân và Đặng Minh Tuấn, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7/2002.
– “Quan hệ giữa thực thi Quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng chính quyền cơ sở nông thôn”, của TS. Nguyễn Văn Sáu, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2002.
– “Chung quanh những vấn đề quy chế dân chủ ở nước ta hiện nay” của Lương Gia Ban, Tạp chí Cộng sản, sè13, tháng 5 năm 2002.
– “Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân téc Việt Nam”, của Trần Bạch Đằng, Tạp chí Cộng sản, số 35, tháng12/2003.
– “Để thực hiện dân chủ ở cơ sở”, của Lê Quang Minh, Tạp chí Cộng sản số 11, tháng 4 năm 2003.
– “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh”, của Trịnh Ngọc Anh, Tạp chí Cộng sản, số 11, tháng 4/2003.
– “Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong quá trình đổi mới: thành tựu, vấn đề và giải pháp”, của GS.TS Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Lý Luận chính trị, số 3/2004.
– “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vấn đề thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, của Lê Xuân Đình, Tạp chí Cộng sản, số 20, tháng 10/2004.
– “Những điểm mới của quy chế dân chủ ở cấp xã”, của Th.S Ngô Thị Tám, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 10/2003.
– “Để thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, của Trần Quang Nhiếp, Tạp chí Cộng sản, số 2, tháng1/1999.
– “Đưa cuộc vận động thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở lên một bước mới, rộng rãi hơn, hiệu quả hơn, thiết thực hơn”, của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nông Đức Mạnh, Tạp chí Cộng sản, số 20, tháng 10/2004.
– “Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới” của TS. Lê Trọng Ân, Tạp chí Cộng sản, số 24, tháng 12/2004.
– “Dân chủ và thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, của Th.S Phạm Văn Bính, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 8/2000.
– “Tiếp tục xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, của Trương Quang Được, Tạp chí Cộng sản, số 12, tháng4/2002.
– “Khâu đột phá của quá trình phát huy dân chủ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới”, của Tòng Thị Phóng, Tạp chí Cộng sản, số 21, tháng 11/2003.
– “Cở sở lý luận – thực tiễn của phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và mâý vấn đề về xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở”, của Đỗ Quang Tuấn, Tạp chí Cộng sản, số 8, tháng4/1998.
– “Về dân chủ ở cơ sở”, của PGS. Nguyễn Huy Qúy, Tạp chí Cộng sản, số 4, tháng 2/2004.
– “Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991 của Thái Ninh – Hoàng Chí Bảo.
– “Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ: quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/1992 của Hoàng Chí Bảo.
– “Dân chủ ở cơ sở là điểm mấu chốt để thực hiện quyền dân chủ”, Tạp chí Quản lý nhà nước, sè1/1999 của Lê Minh Châu.
– “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Chính trị học của Nguyễn Thị Tâm, 2000.
– “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong các trường trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội hiện nay – thực trạng và giải pháp”, Luận án tiến sĩ Chính trị học của Nguyễn Thị Xuân Mai, 2004…
Ngoài ra còn rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các đề tài đã được nghiệm thu, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, về vấn đề dân chủ và dân chủ hóa ở nước ta.
Các công trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với với việc tăng cường củng cố, hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở. Các công trình đó cũng đã cố gắng làm rõ bản chất, nội dung, tính chất và cơ chế thực hiện dân chủ. Các tác giả cũng đã chỉ ra phương hướng và giải pháp nhất định nhằm bảo đảm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tuy nhiên, vẫn còn hiếm hoặc chưa có công trình nghiên cứu làm thế nào để nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là việc nghiên cứu tại một địa bàn cụ thể.
Vì vậy, luận văn này là một cố gắng bước đầu của tác giả, góp phần nghiên cứu, bổ sung vào chỗ còn thiếu hụt mà cụ thể ở đây là trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở tìm hiểu và đánh giá đúng tình hình thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
– Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
– Đánh giá thực tế chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
– Đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu:
Ở cấp xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
* Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên từ năm 1998 đến nay, tức là từ khi ra đời Chỉ thị 30/CT – TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở cũng như những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về vấn đề này và về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các phương pháp cụ thể khác như phương pháp: lịch sử cụ thể, phân tích, tổng hợp; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác: thống kê, so sánh, điều tra xã hội học.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
– Tác giả phân tích đưa ra khái niệm chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã, những tiêu chí đánh giá chất lượng và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã.
– Đánh giá toàn diện chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
– Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm thực sự đóng góp vào việc nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nói chung và ở cấp xã nói riêng.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
– Luận văn góp phần hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
– Luận văn góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm chỉ đạo tổ chức triển khai hoạt động thực tiễn của các cơ quan Đảng và Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương, 8 tiết.
Post Type Description
luận văn đề tài đảng bộ huyện lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu tiến đến năm 2020 đưa nước ta thành một nước công nghiệp, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Sự nghiệp vĩ đại đó chỉ có thể thành công nếu phát huy được quyền làm chủ thực sự của nhân dân, phát huy được sức mạnh sáng tạo và tiềm năng to lớn của toàn dân. Bởi vậy, Đảng ta đã và đang rất quan tâm lãnh đạo phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhất là thực hiện dân chủ ở cơ sở, nơi việc thực hiện dân chủ có ý nghĩa thiết thực, gắn liền với lợi Ých, tư tưởng của các tầng líp nhân dân và có ảnh hưởng nhiều mặt đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
Ngày 18/02/1998, Bé Chính trị (khóa VIII) đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở. Chỉ thị đã được triển khai thực hiện nghiêm túc và thu được nhiều kết quả, góp phần quan trọng ổn định tình hình ở cơ sở, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, việc thực hiện QCDC ở cơ sở vẫn còn bộc lé nhiều khuyết điểm. Không Ýt nơi triển khai có tính chiếu lệ, hình thức, đối phó, thậm chí còn vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Đại hội X của Đảng yêu cầu các tổ chức đảng phải tiếp tục lãnh đạo thực hiện tốt QCDC ở cơ sở, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng.
Trong thời gian qua, các Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân (thành phè Hà Nội) đã có nhiều cố gắng lãnh đạo xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. TÊt cả các phường ở quận đã xây dựng và triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở khá nghiêm túc. Tuy nhiên, việc thực hiện QCDC ở các phường đến nay vẫn còn là một vấn đề có nhiều khó khăn, yếu kém. Một số nơi không thực hiện đúng và đủ QCDC cơ sở đã đề ra, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân trên nhiều lĩnh vực. Nguyên nhân quan trọng, phổ biến là ở đó, tổ chức đảng đã lúng túng hoặc buông lỏng lãnh đạo việc thực hiện QCDC ở cơ sở. Để khắc phục những yếu kém, thực hiện tốt hơn nữa QCDC ở các phường của quận Thanh Xuân, vấn đề có ý nghĩa then chốt và cấp thiết là phải tăng cường sự lãnh đạo của các Đảng bộ phường đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở.
Xuất phát từ tình hình nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Các Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân, thành phè Hà Nội lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ khi có chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII), ngày 18/2/1998, về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, nhiều nhà khoa học và hoạt động thực tiễn đã có những công trình nghiên cứu, tổng kết về vấn đề dân chủ ở cơ sở. Tiêu biểu nh:
– Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và vấn đề xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
– Các quy định pháp luật về dân chủ ở cơ sở năm 2001, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2001
– Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
– Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
– Hoàng Văn Hoằng, Đảng bộ Hoằng Hóa lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Xây dựng Đảng, tháng 10-2001.
– Nguyễn Thành Vinh, Kinh nghiệm từ lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở Quy Léc, Tạp chí Xây dựng Đảng, tháng 12-2002
– Hữu Phan, Quy chế dân chủ ở xã và tiếp tục thực hiện quy chế, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 1+2/ 2002.
– Nguyễn Văn Sáu – Hồ Văn Thông, Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
– Thực hiện dân chủ trong các Đảng bộ xã ngoại thành Hà Nội hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đề tài khoa học cấp bộ, 2003.
– Dương Xuân Ngọc, Quy chế, thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã: một số vấn đề về lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
– Hà Nội sau 5 năm xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản, tháng 11/2003.
– Tính tất yếu đổi mới sự lãnh đạo của Đảng để phát huy dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản, tháng 12/2005.
Các công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu vấn đề dân chủ và thực hiện QCDC ở cơ sở với nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân, thành phè Hà Nội lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp để tăng cường sự lãnh đạo của các Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở.
Nhiệm vô: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
– Làm rõ nội dung, phương thức và các yếu tố tác động đến việc Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân, thành phè Hà Nội lãnh đạo thực hiện thực hiện QCDC ở cơ sở hiện nay.
– Đánh giá thực trạng Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân, thành phè Hà Nội lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở, rót ra nguyên nhân, kinh nghiệm.
– Đề xuất các giải pháp chủ yếu đề tăng cường sự lãnh đạo của các Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự lãnh đạo của các Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở.
– Phạm vi nghiên cứu của đề tài: tập trung khảo sát sự lãnh đạo của các Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở từ khi có Chỉ thị số 30/ CT-TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, năm 1998 đến nay, trên địa bàn quận Thanh Xuân.
5. Phương pháp nghiên cứu
– Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài: Đề tài đã được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và dân chủ ở cơ sở; kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, các tổng kết thực tiễn công tác lãnh đạo của các Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở.
– Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể như: tổng kết thực tiễn, lôgic – lịch sử, điều tra, nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân tích, tổng hợp…
6. Đóng góp của luận văn
– Góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Đảng bộ các phường lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở, đề xuất được các giải pháp chủ yếu để tăng cường sự lãnh đạo của các Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
– Những kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp thêm luận cứ khoa học cho việc tăng cường sự lãnh đạo của các Đảng bộ phường ở quận Thanh Xuân với việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay và có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu, học tập môn Xây dựng Đảng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phô lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
luận văn đề tài đảng bộ tỉnh lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở giai đoạn 2001 – 2010
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ không chỉ là bản chất, mà còn là mục tiêu và động lực để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước ta theo định hướng XHCN. “Không thể có một CNXH thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn” [38, tr.324]. Vì vậy, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề cấp thiết. Chỉ có phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mới huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị định, Chỉ thị quan trọng nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân để phát triển kinh tế, ổn định chính trị, phát triển xã hội: Chỉ thị 30- CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Chỉ thị 22/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện QCDC ở xã; Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã,… Đây là một bước tiến lớn thể hiện sự quyết tâm củng cố, hoàn thiện và phát triển nền dân chủ XHCN của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng là phương thức giải quyết các nhiệm vụ, mục tiêu chung của đất nước trong công cuộc đổi mới.
Việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về QCDC ở cơ sở trên phạm vi cả nước, thời gian qua, đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, thu hót được sự quan tâm hàng ngày của tất cả các tầng líp xã hội. Điều đó chứng tỏ đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đáp ứng được nhu cầu bức thiết và lợi Ých to lớn, trực tiếp của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, được nhân dân phấn khởi đón nhận và tích cực thực hiện.
Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai, trên địa bàn tỉnh Bến Tre, tình hình thực hiện QCDC ở cơ sở vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm: một số nơi, việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở chưa đạt yêu cầu, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm; một số cán bộ có trách nhiệm không muốn triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở, hoặc triển khai một cách hình thức, chiếu lệ, nhiều người chưa nhận thức đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, do đó, tình trạng nhòng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân vẫn còn xảy ra; một bộ phận nhân dân mới chỉ thấy quyền lợi nhiều hơn nghĩa vụ, vì vậy, hiện tượng lợi dụng dân chủ, dân chủ quá trớn đang là nguy cơ đe dọa mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân, gây không Ýt khó khăn cho việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội,…
Từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre – thực trạng và giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp, đồng thời mong muốn góp phần đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, vấn đề mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu với nhiều bài viết, nhiều công trình đã được công bố, xuất bản thành sách.
– PGS.TS Dương Xuân Ngọc: “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã – Mét số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. Tác giả đã làm rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã cả về mặt lý luận và thực tiễn.
– PGS.TS Nguyễn Cóc: “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Tác giả đã tập trung làm sáng tỏ một số khía cạnh chủ yếu về lý luận và thực tiễn của việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong tình hình hiện nay ở nước ta.
– TS. Nguyễn Thị Ngân: “Quá trình thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Đề tài khoa học cấp bộ 2002-2003. Tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng việc thực hiện QCDC cơ sở ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện QCDC ở khu vực đồng bằng sông Hồng.
– Trần Bạch Đằng: “Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân téc Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 35 (12/2003). Trong bài viết này, tác giả khẳng định thực hiện dân chủ ở cơ sở là một khâu rất quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế nhân dân làm chủ xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Theo tác giả, đây là một vấn đề không chỉ mang ý nghĩa thời sự mà còn là một sự tiếp nối truyền thống, phát huy sức mạnh của dân được hình thành trong lịch sử mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân téc ta.
– PGS.TS Trần Khắc Việt: “Thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay: Vấn đề đặt ra và giải pháp”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2004. Tác giả chỉ ra những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội ở nước ta, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy dân chủ trong tình hình hiện nay.
– TS. Đoàn Minh Huấn “Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và quá trình mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8/2004. Tác giả làm rõ vai trò, đặc trưng của dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, qua đó khẳng định: trong giai đoạn hiện nay, muốn mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta, cần phát huy đúng đắn ưu thế của mỗi hình thức dân chủ, đồng thời cần có sự kết hợp chặt chẽ dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Ngoài ra còn có một số luận văn đã bàn về vấn đề triển khai QCDC ở cơ sở tại địa phương như: Nguyễn Minh Thi: “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại các vùng nông thôn miền núi của tỉnh Bắc Giang hiện nay”, Luận văn thạc sĩ CNXHKH bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2000. Phan Văn Bình: “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Vinh – Những vấn đề đặt ra và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ CNXHKH bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2001. Nguyễn Thanh Sơn: “Thực hiện QCDC ở xã trên địa bàn tỉnh Sơn La – Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ CNXHKH bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2003.
Ở Bến Tre, cho đến nay, ngoài “Báo cáo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 30-CT/TƯ của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 1998-2003” của Tỉnh ủy, chưa có công trình khoa học nào đề cập riêng đến việc thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận, ý nghĩa thực tiễn của việc thực hiện QCDC ở cơ sở, đồng thời phân tích, lý giải yêu cầu, cách thức tổ chức, biện pháp… để thực hiện tốt QCDC ở cơ sở một các khá sâu sắc. Do vậy, những tài liệu nêu trên sẽ là nguồn tư liệu tham khảo bổ Ých đối với tác giả.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng, chỉ ra những vấn đề; đề xuất những phương hướng và giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở của tỉnh Bến Tre.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vô:
– Làm rõ vai trò ý nghĩa của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đối với quá trình phát triển dân chủ nước ta.
– Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở tỉnh Bến Tre.
– Đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu: từ góc độ chính trị xã hội nghiên cứu việc thực hiện QCDC ở các xã, phường, thị trấn tỉnh Bến Tre từ năm 1998 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dùa trên cơ sở lý luận về dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Bên cạnh đó, tác giả cũng kế thừa, chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học đã được công bố về vấn đề dân chủ cơ sở.
Cơ sở thực tiễn là quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian qua (1998 đến nay).
Phương pháp nghiên cứu: Từ góc độ chính trị xã hội vận dụng các phương pháp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp và so sánh, đồng thời sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để thực hiện luận văn.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Qua điều tra, nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre, khái quát những thành tựu bước đầu; những hạn chế và nguyên nhân của nó; chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn trong quá trình triển khai thực hiện; đồng thời đề xuất những phương hướng và những giải pháp cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, góp phần đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới của tỉnh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
– Vấn đề dân chủ ở cơ sở, hiện nay ở nước ta, luôn là một vấn đề chính trị – xã hội nhạy cảm và bức xúc. Việc nghiên cứu thực tiễn ở từng địa bàn khác nhau trong quá trình thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, tổng kết kinh nghiệm, xác định điểm tương đồng (phổ biến) và nét đặc thù của từng vùng, miền; bổ sung lý luận về xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở Việt Nam giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.
– Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy chuyên đề; đồng thời cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng trong việc tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
7. Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
luận văn đề tài bản lĩnh chính trị người lãnh đạo trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi chế độ xã hội muốn đứng vững và phát triển, phải được xây dựng nên bởi những con người hết lòng trung thành với chế độ, có trí tuệ và năng lực, đạo đức và bản lĩnh. Trong xã hội ngày nay đó là những cán bộ công chức, những người trực tiếp phục vụ chế độ của dân, do dân và vì dân. Họ là người đại diện cho Nhà nước để xây dựng và thực thi các chủ trương, chính sách. Họ là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của đất nước.
Việt Nam giê đây đang trong thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, những thay đổi về kinh tế – xã hội đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Một mặt, chúng ta cố gắng huy động mọi tiềm năng để đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao; mặt khác, lại phải luôn tỉnh táo, cảnh giác để hướng sự phát triển này không đi lệch mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “ Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghiã”.
Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế thị trường đang hàng ngày, hàng giê tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội, trong đó có lĩnh vực đạo đức, lối sống, bản lĩnh. Bên cạnh mặt tích cực mà nền kinh tế thị trường đem lại, cũng xuất hiện biểu hiện tiêu cực và yếu kém trên lĩnh vực đạo đức, lối sống và bản lĩnh của một bộ phận cán bộ. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế trong tình hình xã hội kém phát triển vừa đem lại cho ta những giá trị tốt đẹp đồng thời tạo ra nhiều biến động trong lối suy nghĩ, lối sống, tư tưởng của con người, làm cho không Ýt người có suy nghĩ, hành vi lệch lạc, thể hiện sự thiếu bản lĩnh chính trị.
Sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phong trào cộng sản quốc tế còn nhiều khó khăn, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội luôn tìm cách ngăn cản bằng “diễn biến hoà bình”, làm cho không Ýt người hoang mang dao động về mục tiêu chủ nghĩa xã hội …
Những tác động lớn đó không chỉ diễn ra trong cán bộ, đảng viên mà còn trong cả đội ngò cán bộ của Đảng và Nhà nước làm cho “một bộ phận không nhỏ cán bộ trong Đảng thoái hóa, biến chất, ảnh hưởng đến sức chiến đấu của Đảng”. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, của đội ngò lãnh đạo đang trong nguy cơ giảm sút và bị đe doạ.
Ngay từ khi Đảng ta ra đời, các vấn đề cán bộ nói chung và bản lĩnh chính trị của cán bộ nói riêng là mối quan tâm hàng đầu và ngày càng được chú ý. Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách về cán bộ, công chức nhằm củng cố, đổi mới, phát triển, nâng cao chất lượng và bản lĩnh chính trị của đội ngò cán bộ trong sự nghiệp đổi mới. Tuy nhiên muốn đưa ra được những chủ trương, chính sách đúng đắn để nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ trong điều kiện thực tế hiện nay, thì cùng với việc tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, cần nắm vững lý luận, đi sâu vào bản chất, khái niệm, thấy được những nét đặc thù và vai trò của cán bộ qua từng giai đoạn cách mạng, đồng thời cũng làm rõ những thuận lợi cũng như những khó khăn mà giai đoạn phát triển mới đang đặt ra.
Vừa có năng lực lãnh đạo, quản lý, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng là yêu cầu của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị (HTCT). Khuyết thiếu một trong hai phẩm chất đó, người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong HTCT không thể đáp ứng nhu cầu của công việc. Đối với những người lãnh đạo, không thể nói có năng lực lãnh đạo quản lý cao, nếu thiếu bản lĩnh chính trị vững vàng và ngược lại. Năng lực lãnh đạo, quản lý của người lãnh đạo trong HTCT được nâng cao trên cơ sở bản lĩnh chính trị vững vàng; ngược lại, bản lĩnh chính trị của họ được củng cố và phát triển cũng thể hiện ở năng lực quản lý của họ.
Sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay đang được đẩy mạnh và ngày càng đi vào chiều sâu. Điều đó đòi hỏi đất nước ta phải có những con người, những cán bộ, đảng viên, có phẩm chất, trình độ, nghị lực và bản lĩnh chính trị cao. Đặc biệt, hiện nay trên thế giới đang diễn ra nhiều biến động kinh tế, chính trị, xã hội phức tạp và nhạy cảm, ở đó chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn; sự nghiệp đổi mới của chúng ta do đó cũng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức. Việc nghiên cứu giáo dục, đào tạo, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo càng trở nên cần thiết và cấp bách hơn bao giê hết. Chính vì vậy, tôi chọn “Bản lĩnh chính trị người lãnh đạo trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ góc độ chính trị học, bản lĩnh chính trị là một phạm trù rất tổng hợp, nó được tạo nên bởi nhiều khía cạnh thuộc bản chất và năng lực của người cán bộ, người đảng viên, người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đoàn thể chính trị – xã hội.
Từ khía cạnh là phẩm chất của người lãnh đạo, xưa nay trong lý luận, trong nghiên cứu khoa học xã hội, nghiên cứu triết học, tâm lý học,… đã có nhiều công trình công bố. Đó là những công trình đi rất sâu vào bản chất, phẩm chất đạo đức, tác phong của người cán bộ, của người đảng viên, của người lãnh đạo được thể hiện ở các tác phẩm: Nguyễn Đức Bình: “Mét số vấn đề về công tác lý luận, tư tưởng và văn hoá”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Phạm Như Cương: “Đổi mới phong cách tư duy”, Nxb Khoa học – Xã hội, Hà Nội, 1999; Lê Sỹ Thắng (chủ biên): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội”; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Nguyễn Trọng Phóc: “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Đức Vượng: “Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ”; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995…
Từ khía cạnh là năng lực của người lãnh đạo, trong nghiên cứu triết học và tâm lý học, xã hội học… cũng đã có nhiều công trình xuất bản. Đó là các công trình bàn sâu về năng lực công tác, năng lực hoạt động lao động sáng tạo; năng lực nghiên cứu khoa học; năng lực quản lý cơ quan, xí nghiệp; năng lực lãnh đạo của Đảng và Nhà nước của các nhà chính trị, nhà quản lý kinh tế, văn hoá, khoa học. Đó là các tác phẩm của: Phạm Hữu Dật: “Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử”; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Tô Huy Rứa, Trần Khắc Viện (đồng chủ biên): “Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay”; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; E.X.Cudơmin, J.P.Voncốp: “Người lãnh đạo và tập thể”, Nxb Sự thật; Hà Nội, 1978; X.Kovalepski: “Người lãnh đạo và cấp dưới”; Nxb Lao động, Hà Nội, 1983…
Tuy nhiên, bản lĩnh con người nói chung, bản lĩnh của người lãnh đạo nói riêng không thể nhận thức được một khi nghiên cứu nó một cách tách bạch phẩm chất và năng lực. Bởi bản lĩnh bao giê cũng được thể hiện ở một cá nhân, một chủ thể trong một tập thể với khả năng tổng hợp vừa phẩm chất vừa năng lực. Hai yếu tố đó mà tách ra thì không thể thành sức mạnh của hành động nữa.
Nếu xét từ cách nhìn này của bản lĩnh thì xưa nay trong khoa học (kể cả triết học, lý luận chính trị) của chúng ta còn rất Ýt được nghiên cứu, thậm chí chỉ có thể đếm đầu ngón tay.
Năm 2002 – 2004, Viện triết học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có thực hiện một số đề tài khoa học: Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên): “Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và xu hướng biến động”, Tổng quan đề tài cấp Bộ (2002 – 2003), Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; “Sự thống nhất biện chứng giữa năng lực lãnh đạo, quản lý với bản lĩnh chính trị trong hoạt động của người cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị nước ta hiện nay”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ 2004 – 2005.
Trên tạp chí cộng sản, sinh hoạt lý luận chính trị quân sự, nghiên cứu lý luận của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có xuất hiện một vài bài quan tâm vấn đề bản lĩnh chính trị như: Đoàn Thế Nga: “Một số tiêu chí đánh giá thực trạng đội ngò cán bộ hiện nay”, Tạp chí Thông tin lý luận, 1998; Chu Hảo: “Tầm nhìn xa và tính quyết đoán”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1, 2001; Nguyễn Văn Huyên: “Phẩm chất, năng lực người lãnh đạo theo yêu cầu của công nghiệp hoá – hiện đại hoá – Mét số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc đánh giá, luân chuyển cán bộ ở nước ta hiện nay”, Ban Tổ chức Trung ương; Nguyễn Văn Huyên: “Bản lĩnh chính trị của người lãnh đạo trong sự nghiệp đổi mới”, Tạp chí lý luận chính trị quân sự, Học viện Chính trị quân sự; 2005.
Một số tác phẩm đã đề cập sâu đến vấn đề nâng cao năng lực trình độ, phẩm chất đạo đức của người cán bộ đảng viên trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá như: Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên): “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngò cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước”; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Nguyễn Văn Tân: “Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngò cán bộ nước ta hiện nay”; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Trần Thành: “Để trở thành người lãnh đạo giỏi”; Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003; Phạm Ngọc Quy: “Văn hoá chính trị với việc bồi dưỡng đội ngò cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay”; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; Trần Thành (chủ biên): “Bản lĩnh chính trị với năng lực của cán bộ lãnh đạo quản lý trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay”; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
Vấn đề bản lĩnh chính trị, đặc biệt là lý luận, khoa học về bản lĩnh chính trị là hết sức bức thiết và quan trọng đối với yêu cầu cách mạng hiện nay của Đảng và nhân dân ta. Trong khi việc nghiên cứu nó lại hết sức Ýt ỏi, nếu không coi là vùng trống. Chúng tôi thấy cần tập trung nghiên cứu vấn đề hết sức căn bản này trong công tác đào tạo, xây dựng đội ngò cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Dưới góc độ Chính trị học, luận văn tập trung làm rõ thực chất, những ưu điểm và hạn chế về bản lĩnh chính trị của người lãnh đạo ở nước ta trong thời gian qua, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị của người lãnh đạo, góp phần từng bước đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vô:
– Làm rõ những vấn đề lý luận về bản lĩnh chính trị và những yếu tố chế định bản lĩnh chính trị;
– Nêu lên những đặc điểm và những yêu cầu về bản lĩnh chính trị của người lãnh đạo đáp ứng sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
– Đưa ra phương hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao bản lĩnh chính trị của người lãnh đạo đáp ứng sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là bản lĩnh chính trị của người lãnh đạo. Khái niệm “người lãnh đạo” được tác giả luận văn xác định là những người giữ những cương vị lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể … với những phẩm chất, trình độ, năng lực và yêu cầu hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Khái niệm “hiện nay” được xác định là từ giữa những năm 80 thế kỷ XX – khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng; luận văn tập trung vào những năm gần đây.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
– Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, về nguồn nhân lực, về cán bộ, về người lãnh đạo.
– Các Văn kiện Đại hội Đảng và các Nghị quyết của Đảng về đổi mới, về sự nghiệp xây dựng CNXH, về công tác cán bộ trong giai đoạn cách mạng hiện nay và những năm tiếp theo; các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ;
– Luận văn sử dụng các tác phẩm và các bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: lôgíc – lịch sử, phân tích – tổng hợp, khái quát hoá, gắn lý luận với thực tiễn.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn:
– Góp phần trình bày một cách có tính hệ thống, nhiều phương diện và có cơ sở khoa học khái niệm bản lĩnh chính trị và bản lĩnh chính trị của người lãnh đạo; đưa ra những đánh giá khái quát những nét ưu điểm cũng như hạn chế về bản lĩnh chính trị của người lãnh đạo ở nước ta hiện nay.
– Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị của người lãnh đạo trong sự nghiệp đổi mới, góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng đề ra: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân téc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định, điều chỉnh, bổ sung, cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ lãnh đạo trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay.
Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ lãnh đạo ở mọi ngành, mọi cấp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
luận văn đề tài đảng bộ huyện lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001 – 2008
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực tiễn lịch sử phát triển thế giới cận, hiện đại và thực tiễn công cuộc cải cách, mở cửa, đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra trong mấy thập niên gần đây cho thấy nông nghiệp có vị trí hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ. Trong điều kiện hiện nay các nước đều nhận thức được rằng: không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự ổn định của cả nước, không có nền nông nghiệp phát triển thì nền kinh tế quốc dân khó có thể phát triển cao và ổn định. Vì thế nhiều nước đã tiến hành cải cách bắt đầu từ nông nghiệp, nông thôn dựa vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Do đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một xu thế tất yếu.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và đại bộ phận dân cư sống ở nông thôn thì nông nghiệp, nông thôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn không những quan trọng mà còn có ý nghĩa quyết định đến quy mô và tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Đây cũng là giải pháp thiết thực để xóa đói, giảm nghèo. Do xác định đúng đắn vai trò của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nên ở mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước Đảng đã đưa ra những chủ trương, chính sách đúng đắn kịp thời nhờ đó nông nghiệp, nông thôn nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc, góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội, tạo tiền đề để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch chậm, công nghiệp nông thôn phát triển kém, lao động chủ yếu là thủ công, năng suất thấp, trình độ khoa học công nghệ sản suất còn nhiều mặt lạc hậu…. Chính những tồn tại này đã gây cản trở sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy sự phát triển kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn vẫn là một mối quan tâm hàng đầu của Đảng.
Yên Mỹ là một huyện của tỉnh Hưng Yên, nằm trên khu vực đồng bằng sông Hồng. Yên Mỹ không chỉ là quê hương của những nhân vật tài hoa nổi tiếng như Phạm Công Trứ, Đoàn Thị Điển, Lê Hữu Trác, Nguyễn Văn Linh… mà còn là nơi có truyền thống sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, phát triển của các nghề tiểu thủ công nghiệp. Yên Mỹ có nhịp độ phát triển kinh tế, xã hội sôi động và nhiều lợi thế để phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Từ khi được thành lập đến nay Đảng bộ huyện Yên Mỹ đã luôn quan tâm lãnh đạo phát triển phát triển kinh tế ở nhiều mảng: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp… Trong đó, do đặc thù của huyện có tới hơn 80% dân số làm nông nghiệp, đất đai mầu mỡ, diện tích đất canh tác lớn… Đảng bộ huyện đã đặc biệt chú ý đến lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nhờ đó đã không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, khai thác triệt để tài nguyên phong phú, dồi dào giải quyết được vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, chống tệ nạn xã hội, mang lại sự tin tưởng cho nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của huyện vẫn còn tồn tại vấn đề bức xúc như: nông nghiệp, nông thôn chưa được quan tâm đúng mức, tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn nhanh nhưng chưa vững chắc, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của huyện, việc triển khai các chương trình, dự án còn lúng túng, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chưa cao… Trong thời gian tới nếu Đảng bộ huyện Yên Mỹ đề ra được đường lối đúng đắn, phát huy tốt những thành tựu đã đạt được, khơi dậy tiềm năng mới, khắc phục những hạn chế còn tồn tại, thì kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng và tốc độ phát triển kinh tế nói chung của huyện sẽ có những bước phát triển to lớn.
Tác giả là một người con được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất của huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên giàu truyền thống lịch sử văn hóa. Với mong muốn được tìm hiểu nhiều hơn và đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của quê hương ngày càng giàu mạnh. Trên cơ sở nhận thức nguồn lao động của huyện chủ yếu là trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn.Đây cũng là nguồn nội góp phần to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiên đại hóa của đất nước. Xuất phát từ những lý do đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Yên Mỹ lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (2001-2008)”
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một vấn đề quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nên hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố. Song hầu hết các công trình đều tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình chuyển dịch, kinh nghiệm chuyển dịch của các nước trên thế giới và và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
Về mặt lý luận: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn (TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, NXB Chính trị Quốc gia, 2002); Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, tập I, II (Ngô Đình Cao, NXB chính trị Quốc gia, 2002); Về đẩy nhanh công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (TS. Nguyễn Thiện Luân, Báo Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 12 năm 2001).
Về mặt thực tiễn: Đã có nhiều công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở một số vùng trong cả nước như công trình: Chuyển dịch cơ cấu knh tế nông thôn Bắc Trung Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (TS Nguyễn Đăng Bằng, Nxb Nông nghiệp, HN, 2002 )…
Có thể thấy, các đề tài hết sức phong phú với nhiều hướng tiếp cận khác nhau… Những kết quả đạt được là hết sức quý báu gợi mở nhiều hướng nghiên cứu mới nhằm trực tiếp phục vụ sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách sâu sắc có hệ thống quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với thực tiễn lịch sử cụ thể của địa phương dưới góc độ của khoa học Lịch sử Đảng.
3. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Thứ nhất, trên cơ sở tổng quan về lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Đảng lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đề tài nhằm bước đầu tìm hiểu thực trạng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Mỹ. Từ đó có cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và những giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cho phù hợp với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
Thứ hai, làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện Yên Mỹ, kết quả đạt được và một số hạn chế trong quá trình thực hiện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, khóa luận cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
Làm rõ cơ sở khoa học của vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Quan điểm, chủ trương, quá trình tổ chức thực hiện của Đảng bộ huyện Yên Mỹ về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Kết quả đạt được và những giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong những năm tới.
3.3. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về nguồn tài liệu cũng như thời gian nghiên cứu nên tác giả nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ năm 2001 đến năm 2008, phạm vi lãnh thổ nghiên cứu trên phạm vi bao quát toàn bộ 16 xã và 1 thị trấn của huyện Yên Mỹ.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chung của khoa học xã hội là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, logic và lịch sử, thống kê và so sánh.
5. Nét mới của đề tài
Nếu các công trình nghiên cứu khác về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn dù tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung đều mang tính tổng quát, nghiên cứu trên phạm vi rông lớn. Riêng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng chủ yếu bàn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do vậy, nét mới nổi bật của khóa luận là đã nghiên cứu một cách sâu sắc quá trình Đảng bộ huyện Yên Mỹ lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, khóa luận đã không những đánh giá được thực trạng, thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế mà còn nghiên cứu được quá trình tổ chức thực hiện lãnh đạo phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ địa phương.
6. Ý nghĩa của đề tài
Viết đề tài có ý nghĩa thiết thực với tác giả trong việc bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học. Đồng thời, với đề tài này tác giả mong muốn góp phần nâng cao kiến thức khoa học cũng như phương hướng học tập, nghiên cứu, nâng cao nhận thức về Đảng nói chung và Đảng bộ huyện Yên Mỹ nói riêng trong việc giả quyết vấn đề lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận được cấu trúc như sau:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học để Đảng lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Chương 2: Đảng bộ huyện Yên Mỹ lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn