Tiểu luận thực trạng và giải pháp chăm sóc người khuyết tật trên địa bàn xã

MỞ ĐẦU

Có thể hiểu người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới, số liệu về người khuyết tật rất khác nhau. Nguyên nhân là do có khá nhiều các tổ chức, của chính phủ cũng như phi chính phủ, đánh giá với các tiêu chí khác nhau. Ở Việt Nam, ước tính người khuyết tật hiện chiếm khoảng 6% dân số. Vùng có tỷ lệ khuyết tật cao nhất là Đông Nam Bộ, thấp nhất là vùng Tây Bắc. Tỷ lệ người khuyết tật khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn. Tỷ lệ người khuyết tật nữ cao hơn nam do nhóm dân số nữ cao tuổi chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều so với nhóm dân số cao tuổi là nam giới.
Cho đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật đối với người khuyết tật. Người khuyết tật đang hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, được hưởng chính sách quy định tại Luật về người khuyết tật năm 2010. Người khuyết tật thuộc đối tượng được hưởng nhiều chính sách trợ giúp xã hội cùng loại thì chỉ được hưởng một chính sách trợ giúp cao nhất. Thông qua đó, bảo đảm cho người khuyết tật tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật; và được thụ hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật. Và người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật.
Trong những năm qua, cùng với lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, cấp ủy, chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị đã thường xuyên quan tâm chăm sóc người khuyết tật. Gia đình NKT đã phát huy tốt vai trò là tuyến đầu nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ NKT, đồng thời nhiều NKT đã nỗ lực vượt qua mặc cảm, tự ti, vươn lên khẳng định khả năng sống độc lập, hòa nhập xã hội và góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác chăm sóc người khuyết tật trên địa bàn xã còn những hạn chế đó là: Đời sống của người khuyết tật còn khó khăn; việc huy động các nguồn lực, nhất là nguồn lực xã hội hóa cho công tác chăm sóc sức khỏe người khuyết tật còn hạn chế…..
Chính vì vậy, nhằm làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, thực tiễn của việc chăm sóc người khuyết tật, chỉ ra những nguyên nhân của các hạn chế, trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp góp phần chăm sóc người khuyết tật trên địa bàn xã…….., huyện………., tỉnh……, từ những kiến thức trong quá trình học tập tại trường và kết quả nghiên cứu, thực tế tại xã………., Tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp chăm sóc người khuyết tật trên địa bàn xã………trong giai đoạn hiện nay” làm tiểu luận môn học……………….

Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát huy vai trò người cao tuổi trên địa bàn xã

MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Người cao tuổi là của quý vô giá của dân tộc, của Nhà nước. Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng công tác chăm sóc người cao tuổi, tôn vinh, và phát huy giá trị vô giá của người cao tuổi để họ tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Ý thức được vai trò, tầm quan trọng của người cao tuổi đối với sự phát triển của địa phương, trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền và Hội người cao tuổi đã thường xuyên quan tâm phát huy vai trò, trách nhiệm của người cao tuổi ở địa phương. Người cao tuổi trong toàn xã đã tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, hiến kế, hiến công, nêu gương trên lĩnh vực công tác, lao động sản xuất, giảm nghèo, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy vai trò của người cao tuổi trên địa bàn xã còn những hạn chế, đó là: đời sống của một số ít hội viên người cao tuổi còn khó khăn; việc xã hội hóa công tác chăm sóc còn hạn chế…
Chính vì vậy, nhằm làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, thực tiễn của phát huy vai trò người cao tuổi, chỉ ra những nguyên nhân của các hạn chế, trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp góp phần phát huy vai trò người cao tuổi trên địa bàn xã…….., huyện………., tỉnh……, từ những kiến thức trong quá trình học tập tại trường và kết quả nghiên cứu, thực tế tại xã………., Tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp phát huy vai trò người cao tuổi trên địa bàn xã………trong giai đoạn hiện nay” làm tiểu luận môn học……………….

Tiểu luận Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở

MỞ ĐẦU

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao năng lực trong công việc của mỗi cán bộ, đảng viên. Người cũng đồng thời nhấn mạnh vai trò của công tác cán bộ trong việc xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng, của Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Người chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” . “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”. Quán triệt lời dạy của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm công tác xây dựng và chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên, xác định rõ đây là khâu then chốt trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng ta, giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Theo đó, đội ngũ Cán bộ quản lý có vai trò quan trọng trong đổi mới giáo dục phổ thông; là một trong những lực lượng trực tiếp góp phần hoạch định chủ trương, chính sách, đề án, chiến lược và các nhiệm vụ đổi mới giáo dục. Vì vậy, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cần được quan tâm, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng chuẩn hóa giáo dục.
Sông Lô là huyện nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, được thành lập theo Nghị định số 09/2008/NĐ-CP ngày 23/12/2008 của Chính phủ. Vượt lên những khó khăn, thách thức của huyện mới thành lập, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Sông Lô đã phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, khai thác có hiệu quả những tiềm năng, lợi thế, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng đảng và hệ thống chính trị vững mạnh.
Cùng với sự phát triển chung của huyện, ngành Giáo dục – Đào tạo huyện Sông Lô đã đạt được những kết quả quan trọng, đặc biệt ở bậc học trung học cơ sở (THCS), chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn được nâng cao, trở thành một trong các huyện tốp đầu của tỉnh. Một trong những nguyên nhân quan trọng của những thành quả đó là do ngành Giáo dục – Đào tạo huyện Sông Lô đã thường xuyên quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường THCS trên địa bàn có tâm, có tầm, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường THCS trên địa bàn huyện còn những tồn tại, hạn chế: chưa có chính sách đặc thù của huyện để hỗ trợ đội ngũ cán bộ quản lý tự học tập, nâng cao trình độ; việc đánh giá cán bộ quản lý còn có biểu hiện chạy theo thành tích, chưa gắn chất lượng giáo dục của đơn vị với xếp loại cán bộ quản lý hàng năm; việc bổ nhiệm một số cán bộ quản lý chưa đảm bảo các quy định…Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường THCS huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc là vấn đề có tính cấp thiết. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc” làm kết quả thu hoạch thực tế Lớp trung cấp lý luận chính trị – Hành chính huyện Sông Lô khóa 2016 – 2017.

Tiểu luận thực trạng công tác quản lý Nhà nước về văn hóa trên địa bàn xã

LỜI NÓI ĐẦU

Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển và sự trường tồn của một dân tộc. Nhận thức vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa nên ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quan tâm đến vấn đề văn hoá và không ngừng bổ sung và phát triển đường lối văn hoá, đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam.
……………là xã nằm ở phía ….huyện Sông Lô, nơi có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, vùng đất có bề dày lịch sử, với những nét văn hoá độc đáo của nhiều dân tộc khác nhau. Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ sau khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII), Đảng bộ và nhân dân xã….. đã khắc phục khó khăn, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, tạo ra những bước phát triển vượt bậc, nhất là lĩnh vực văn hóa, từng bước tập trung xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ngày càng phong phú, đa dạng và lành mạnh hơn. Việc đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hoá được chú ý. Các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thông tin đại chúng, tuyên truyền cổ động hướng về cơ sở…đã tạo nên sự chuyển biến tích cực trong đời sống văn hoá ở cơ sở, góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của các dân tộc, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước về văn hoá trên địa bàn xã còn có một số hạn chế, nhất là trong chỉ đạo và quản lý của các cấp uỷ đảng, chính quyền đòi hỏi cần có sự nghiên cứu, đánh giá đầy đủ, khách quan Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về văn hóa trên địa bàn xã…..” làm kết quả thu hoạch thực tế Lớp trung cấp lý luận chính trị – Hành chính huyện Sông Lô khóa 2016 – 2017.

Tiểu luận Thực trạng phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

MỞ ĐẦU

Việc thành lập các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) là một trong những giải pháp quan trọng đối với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng và Nhà nước đã chủ trương thí điểm và triển khai việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) định hướng chiến lược xây dựng và phát triển các KCN đã được triển khai trong cả nước, và từng bước được bổ sung, hoàn thiện tại các Đại hội tiếp theo.
Đối với Vĩnh Phúc – một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc liền kề với Thủ đô Hà Nội, nơi có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, vùng đất có bề dày lịch sử, với những nét văn hoá độc đáo của nhiều dân tộc khác nhau. Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ sau khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã khắc phục khó khăn, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, tạo ra những bước phát triển vượt bậc, nhất là trong phát triển các khu công nghiệp. Vì vậy, ngay từ năm 1998, Vĩnh Phúc đã thành lập KCN đầu tiên và đến nay đã có 11 KCN được thành lập và cấp giấy chứng nhận đầu tư, tổng diện tích quy hoạch hơn 2.300ha, bao gồm: Kim Hoa, Khai Quang, Bình Xuyên, Bình Xuyên II, Bá Thiện, Bá Thiện II, Phúc Yên, Chấn Hưng, Tam Dương II, Sơn Lôi và Thăng Long Vĩnh Phúc. Tính đến tháng 8/2017, các KCN trên địa bàn tỉnh đã thu hút 213 dự án đầu tư, bao gồm 171 dự án FDI, với số vốn đăng ký gần 2,7 tỷ USD; 42 dự án DDI, với số vốn đăng ký gần 15.000 tỷ đồng. Hiện có 181 dự án tại các KCN đang hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho hơn 70 nghìn lao động, trong đó lao động địa phương chiếm khoảng 80% tổng số lao động. Những thành công của các KCN đã góp phần đưa Vĩnh Phúc trở thành một tỉnh có năng lực cạnh tranh cao thứ 3 của cả nước.
Tuy nhiên, sự phát triển KCN tỉnh Vĩnh Phúc còn nhiều bất cập như: số dự án đầu tư từ các thị trường lớn như Mỹ và EU còn hạn chế; các dự án đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển dịch vụ, các ngành công nghiệp phụ trợ và các ngành công nghệ cao còn ít; và vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái,.v.v.. Xuất phát từ thực trạng trên tác giả chọn “ Thực trạng phát triển các khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc” làm đề tài bài thu hoạch thực tế Lớp trung cấp lý luận chính trị – Hành chính huyện Sông Lô khóa 2016 – 2017.